Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu: Thanh Vũ/TTXVN
Giá trị kết tinh tính cách con người
Theo các chuyên gia, hành trình 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy đột phá thể chế không phải là sản phẩm thuần túy của điều kiện vật chất hay quyết định hành chính, mà còn được nuôi dưỡng bởi một nền tảng văn hóa vững chắc. Hệ giá trị kết tinh trong tính cách con người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh luôn năng động, sáng tạo; cởi mở, dung hợp; trọng thực tế, dám nghĩ, dám làm; nghĩa tình, bao dung. Đây chính là nguồn lực nội sinh lý giải vì sao tinh thần cải cách liên tục tái sinh nơi đây, từ “xé rào” thời bao cấp đến Nghị quyết số 98/2023/QH15 và Nghị quyết số 09-NQ/TW.
Tiến sỹ Huỳnh Văn Sinh và Thạc sỹ Nguyễn Thị Lộc Uyển (Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh) trong quá trình nghiên cứu về hành trình 50 năm của Thành phố mang tên Bác đã đặt ra câu hỏi: Thành phố Hồ Chí Minh được nhìn nhận như nơi khởi phát của nhiều cải cách, từ các mô hình “xé rào” trong giai đoạn đầu Đổi mới, đến hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù hiện nay. Vì sao tinh thần thử nghiệm và đột phá liên tục tái sinh mạnh mẽ ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi nơi khác không đạt cùng cường độ? Câu trả lời được lần giở trở lại lịch sử hình thành và phát triển của thành phố, khi hệ giá trị kết tinh trong tính cách con người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh được hun đúc từ lớp lớp người dân Việt Nam qua hơn 328 năm khẩn hoang, giao lưu, tiếp biến các luồng văn hóa khác nhau (Hoa, Khmer, Chăm), chính là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh nuôi dưỡng năng lực đột phá thể chế của thành phố.
Trải qua nhiều thế kỷ đã hình thành nên nhiều lớp giá trị trong tính cách con người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó bốn lớp giá trị cốt lõi có tính ổn định, được biểu hiện liên tục từ thế kỷ XIX đến nay là: Năng động, linh hoạt, sáng tạo; tính “mở”; trọng thực tế, dám nghĩ, dám làm và nghĩa tình, bao dung. Bốn lớp giá trị trên không tồn tại tách rời mà cộng hưởng thành một “hệ điều hành văn hóa” chi phối cách thành phố ứng xử với thể chế.
Các chuyên gia cho rằng, có thể nhận diện cơ chế vận hành qua ba tầng nấc kế tiếp nhau trong nửa thế kỷ qua. Đầu tiên là tinh thần “xé rào” trong những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, góp phần quan trọng vào việc hình thành đường lối Đổi mới năm 1986. Hai là, thể chế hóa tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, thành phố thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển. Ba là, kiến tạo thể chế vượt trội cho kỷ nguyên mới với Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành và Luật Đô thị đặc biệt đang được xây dựng cho Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguồn lực nội sinh từ các tiểu vùng văn hóa
Trong nửa thế kỷ qua, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế của cả nước, mà còn trở thành không gian hội tụ, dung hợp và tái tạo nhiều dòng văn hóa. Chính khả năng tiếp nhận và chuyển hóa các nguồn lực văn hóa khác nhau đã góp phần hình thành nên bản sắc đô thị năng động, cởi mở, thực tiễn và nghĩa tình.
Trong bối cảnh mới sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính (sáp nhập Thành phố Hồ Chí Minh với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây), Thành phố Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian hành chính - kinh tế - xã hội được mở rộng của một siêu đô thị diện tích hơn 6.772km2, dân số trên 14 triệu người.
Tiến sỹ Vũ Thị Phương (Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh) nhận định: Không gian phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ mở rộng về địa giới, dân số, hạ tầng và thị trường, mà còn mở rộng về chiều sâu văn hóa. Các tiểu vùng vốn có lịch sử định cư, điều kiện môi sinh, phương thức sinh kế, ký ức cộng đồng và thiết chế văn hóa khác nhau nay cùng vận hành trong một chỉnh thể đô thị mới. Điều này đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận bản sắc Thành phố Hồ Chí Minh không như một khối đồng nhất, mà như một cấu trúc đa lớp, được kiến tạo từ sự cộng hưởng của nhiều tiểu vùng văn hóa.
Theo chuyên gia, các tiểu vùng văn hóa đặc thù của thành phố gồm: Vùng lõi Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh với tính chất hội tụ, giao thương và đổi mới; Bình Dương với không gian vùng gò, làng nghề, công nghiệp và văn hóa lao động nhập cư; Bà Rịa - Vũng Tàu - Côn Đảo với văn hóa biển đảo, kinh tế cảng - dầu khí và ký ức lịch sử cách mạng. Các lớp văn hóa này không đứng bên ngoài quá trình phát triển, mà tham gia trực tiếp vào việc tạo lập sức hấp dẫn, bản lĩnh thích nghi và năng lực cạnh tranh mềm của thành phố.
Cùng góc nhìn về các tiểu vùng văn hóa, Tiến sỹ Lê Thị Linh Trang (Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng, ba lớp không gian văn hóa trên không tách rời nhau, cùng tham gia kiến tạo bản sắc Thành phố Hồ Chí Minh trong hành trình phát triển 50 năm qua. Từ vùng lõi đô thị hội tụ, vùng công nghiệp - nghề thủ công đến vùng biển đảo - ký ức lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh hiện lên như một không gian văn hóa mở, đa dạng và giàu khả năng tái tạo.
Thành phố Hồ Chí Minh đang vươn mình phát triển thành đô thị, trung tâm tài chính bậc nhất Đông Nam Á. Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN
Những tiểu vùng văn hóa vừa làm nên bản sắc văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, vừa tạo điểm nhấn cho bức tranh văn hóa đa sắc màu của thành phố. Là công dân của Thành phố mang tên Bác, Thạc sỹ Nguyễn Tuấn Anh (Tổng công ty Công nghiệp Sài Gòn) cho biết, cảm xúc lâng lâng khi được trải nghiệm không gian mới của thành phố. Đi dọc các khu vực ngoại thành và vùng mới sáp nhập, dễ nhận ra mỗi nơi mang một “tính cách” riêng. Có nơi là những cánh đồng, vườn cây và kênh rạch đan xen, thích hợp cho nông nghiệp đô thị, du lịch sinh thái. Có nơi là những khu công nghiệp, logistics nhộn nhịp. Có nơi là đô thị cảng, gắn với hoạt động kinh tế biển. Lại có nơi mang dáng dấp của khu bảo tồn với rừng núi, đầm hồ, nơi thiên nhiên và đời sống con người cần được gìn giữ cẩn trọng.
Bước vào kỷ nguyên mới của Thành phố Hồ Chí Minh với tầm nhìn 100 năm, định hướng trở thành siêu đô thị toàn cầu, phát triển theo mô hình đa cực, đa tầng, đa lớp; di sản tiểu vùng được đánh giá như nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của thành phố. Theo các chuyên gia, di sản tiểu vùng trước hết là nguồn lực ký ức và tinh thần. Trong quá trình đô thị hóa nhanh, ký ức cộng đồng giúp cư dân nhận diện nơi chốn, duy trì cảm giác thuộc về và tạo nền tảng cho sự gắn kết xã hội. Chúng giúp người dân, đặc biệt là người nhập cư, không chỉ sống trong một không gian kinh tế, mà còn tham gia vào một không gian văn hóa có ý nghĩa.
Di sản tiểu vùng cũng là nguồn lực xã hội quan trọng. Dưới góc nhìn của các chuyên gia, Thành phố Hồ Chí Minh phát triển mạnh mẽ một phần nhờ khả năng tiếp nhận các dòng di cư và chuyển hóa nguồn lực con người thành động lực phát triển. Mỗi cộng đồng di cư mang theo kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm sinh tồn, mạng lưới xã hội, thói quen tương trợ, thực hành tín ngưỡng và vốn văn hóa vùng miền. Tại thành phố, các yếu tố ấy không chỉ giúp người nhập cư vượt qua khó khăn ban đầu, mà còn đóng góp vào sự đa dạng của ẩm thực, thương mại, dịch vụ, nghề thủ công, công nghiệp, du lịch và đời sống văn hóa đô thị.
Ở bình diện kinh tế, di sản tiểu vùng có khả năng trở thành nguồn lực cho kinh tế văn hóa, du lịch đô thị và công nghiệp sáng tạo. Những khu phố chuyên doanh ở Chợ Lớn, làng nghề gốm sứ và sơn mài Bình Dương, các tuyến văn hóa sông nước, vạn chài ven biển Vũng Tàu, di tích Côn Đảo, ẩm thực của cộng đồng nhập cư, lễ hội dân gian và di sản công nghiệp đều có thể được kết nối thành sản phẩm văn hóa - du lịch đặc thù. Các chuyên gia nêu ví dụ, đồng thời nhấn mạnh, nếu được đầu tư bằng tư duy hiện đại, những di sản này không chỉ là đối tượng bảo tồn, mà còn có thể tạo sinh kế, thu hút du khách, hỗ trợ doanh nghiệp sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh mềm của Thành phố Hồ Chí Minh.