Chương trình mục tiêu Quốc gia: Lấy cải thiện đời sống nhân dân làm thước đo

Hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu Quốc gia (CTMTQG) thành một chương trình không làm gián đoạn chính sách hoặc ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của người đang thụ hưởng. Đây là quan điểm của bà Nguyễn Thị Việt Nga, Đại biểu Quốc hội TP Hải Phòng khi trao đổi với phóng viên báo Tin tức và Dân tộc (TTXVN) về chủ đề này.

Chú thích ảnh
Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga.

Thưa bà, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc hợp nhất CTMTQG với số phiếu tán thành cao. Có ý kiến cho rằng, việc hợp nhất một CTMTQG cần thể hiện rõ kết quả phát triển con người, lấy mức độ cải thiện thực chất đời sống nhân dân làm thước đo, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Bà có ý kiến gì về quan điểm này?

Tôi đồng tình với quan điểm này. Bởi mục tiêu cuối cùng của một CTMTQG không phải là phân bổ được bao nhiêu vốn, xây dựng được bao nhiêu công trình hay hoàn thành bao nhiêu dự án? mà là nguồn lực đó đã tạo ra sự thay đổi như thế nào đối với cuộc sống của người dân.

Điều này càng quan trọng đối với CTMTQG sau hợp nhất, bởi phạm vi của Chương trình bao trùm những lĩnh vực tác động trực tiếp đến chất lượng phát triển con người như văn hóa, giáo dục, y tế, dân số, giảm nghèo, sinh kế, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Tôi đánh giá cao việc trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, nguyên tắc không làm thay đổi, thu hẹp mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng cốt lõi, quyền lợi và mức độ ưu tiên của 4 Chương trình trước khi hợp nhất đã được xác lập khá rõ; đồng thời không được làm gián đoạn chính sách hoặc ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của người đang thụ hưởng. 

Chủ trương “không ai bị bỏ lại phía sau” không chỉ là bảo đảm về mặt nguyên tắc không đối tượng nào bị mất chính sách, quan trọng hơn là phải đo được ai đang thực sự được thụ hưởng, thụ hưởng ở mức độ nào và sau chính sách cuộc sống của họ thay đổi ra sao.

Đơn cử, một trường học được xây mới là kết quả đầu ra, nhưng điều cần quan tâm hơn là trẻ em ở địa bàn khó khăn có được tiếp cận giáo dục thuận lợi hơn và chất lượng học tập có được cải thiện hay không. Một trạm y tế được đầu tư là cần thiết, nhưng kết quả cuối cùng phải là người dân được chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Một hộ nghèo được hỗ trợ sinh kế chưa phải là điểm kết thúc; phải xem sinh kế ấy có bền vững và giúp họ thực sự thoát nghèo hay không.

Hồ sơ Chương trình cũng đã nhận diện một rủi ro rất đáng lưu ý: Nếu dữ liệu chỉ được tổng hợp chung mà không phân tách theo giới tính, dân tộc, độ tuổi, tình trạng khuyết tật, mức sống và địa bàn thì những con số bình quân có thể che khuất sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận và mức độ thụ hưởng chính sách. 

Vì vậy, bên cạnh chỉ tiêu về tiến độ và giải ngân, phải đặc biệt coi trọng các chỉ tiêu về thu nhập, việc làm, khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, dịch vụ xã hội và chất lượng cuộc sống. Chính phủ cũng đã định hướng bộ tiêu chí đánh giá phải có cả mức độ hoàn thành mục tiêu và kết quả đánh giá sự hài lòng của Nhân dân. 

Nói cách khác, phải chuyển từ tư duy đo xem Nhà nước đã làm được bao nhiêu sang đo xem người dân đã được hưởng lợi như thế nào. Đó mới là thước đo thực chất nhất của Chương trình.

Nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, việc tích hợp phải thực chất, tạo ra phương thức quản trị và điều phối nguồn lực thống nhất. Bà có đánh giá gì về chủ trương CTMTQG, có cần có một mục tiêu chung, một logic chính sách thống nhất, một cơ chế điều phối nguồn lực và một phương thức quản trị thống nhất không, thưa bà?

Đây chính là điều kiện quyết định để việc hợp nhất có ý nghĩa thực chất. Nếu chỉ đưa 4 Chương trình vào một tên gọi chung, còn bên trong vẫn vận hành theo 4 logic khác nhau thì đó mới là hợp nhất về hình thức, chưa phải đổi mới phương thức quản trị.

Một Chương trình tổng thể trước hết phải có một logic phát triển thống nhất. Văn hóa, giáo dục, y tế, giảm nghèo, sinh kế, nông thôn hay chính sách dân tộc tuy là những lĩnh vực khác nhau nhưng không tồn tại biệt lập trong cuộc sống của một con người hay một cộng đồng.

Một hộ nghèo ở vùng khó khăn có thể đồng thời thiếu sinh kế, nhà ở, nước sạch, điều kiện học tập cho con và khả năng tiếp cận y tế. Nếu mỗi nhu cầu ấy tiếp tục được xử lý bằng một quy trình, một nguồn vốn và một hệ thống thủ tục riêng thì chính sách vẫn bị chia cắt theo cơ quan quản lý, trong khi đời sống của người dân vốn không chia cắt như vậy. Đó cũng là giá trị lớn mà tôi kỳ vọng ở việc hợp nhất lần này.

Chính phủ đã xác định việc thống nhất Chương trình phải khắc phục tình trạng giao thoa, trùng lặp về mục tiêu, đối tượng, địa bàn và nội dung hỗ trợ; tiến tới thống nhất cơ chế quản lý, tiêu chí phân bổ, chế độ báo cáo và toàn bộ quy trình từ lập kế hoạch, phân bổ, giao vốn đến thanh toán, quyết toán, giám sát, đánh giá. 

Do vậy, cần đi đến một bước cao hơn: Không chỉ tích hợp nguồn lực mà phải tích hợp cách giải quyết vấn đề. Tức là từ một mục tiêu phát triển chung, xác định các vấn đề cần giải quyết; từ đó bố trí nguồn lực theo địa bàn, đối tượng và kết quả cần đạt, thay vì trước hết chia nguồn lực thành những “ngăn” hành chính rồi mới tìm nhiệm vụ để sử dụng.

Và quan trọng nhất, phải đo được giá trị gia tăng của chính việc tích hợp. Sau vài năm thực hiện, Quốc hội phải trả lời được: Số đầu mối và thủ tục có thực sự giảm không; thời gian giao và sử dụng vốn có rút ngắn không; nguồn lực có được phối hợp tốt hơn không; tình trạng trùng lặp chính sách có giảm không; cùng một đồng ngân sách có tạo ra hiệu quả phát triển cao hơn trước hay không.

Nếu không đo được những điều đó, chúng ta có thể biết từng lĩnh vực hoàn thành bao nhiêu chỉ tiêu nhưng lại chưa chứng minh được một Chương trình tổng thể hiệu quả hơn bốn Chương trình riêng biệt ở điểm nào.

Do đó, tôi cho rằng, tinh thần cốt lõi phải là: Một mục tiêu phát triển chung, một logic chính sách thống nhất, một cơ chế điều phối nguồn lực đồng bộ và một hệ thống quản trị, dữ liệu, giám sát thống nhất; nhưng trong sự thống nhất ấy vẫn phải bảo toàn đầy đủ các mục tiêu đặc thù và quyền lợi của từng nhóm đối tượng.

Chú thích ảnh
Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu. Ảnh: TTXVN

Thưa bà, cử tri và nhân dân cả nước cho rằng, cần nhận diện rõ rủi ro của CTMTQG khi phạm vi của Chương trình rộng, tổng nguồn lực dự kiến giai đoạn 2026 - 2030 lên tới 808.558 tỷ đồng. Nếu chỉ hợp nhất về tên gọi và đầu mối, nhưng bên trong vẫn duy trì nhiều cơ chế phân bổ, định mức, thủ tục và hệ thống báo cáo riêng, có thể giảm số lượng chương trình. Quan điểm của bà về vấn đề này như thế nào?

Tôi cho rằng đây là một cảnh báo xác đáng và cần được đặc biệt lưu ý trong quá trình tổ chức thực hiện.

Quốc hội đã quyết nghị tổng nguồn lực cần huy động cho 4 Chương trình trước khi hợp nhất là 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương 395.392 tỷ đồng, cùng nguồn tín dụng chính sách, vốn đối ứng của các cơ sở giáo dục và các nguồn huy động hợp pháp khác. Một Chương trình có quy mô nguồn lực lớn, phạm vi bao trùm nhiều ngành, nhiều cấp và tác động tới rất nhiều nhóm dân cư đương nhiên đòi hỏi năng lực quản trị rất cao.

Nếu chúng ta giảm từ 4 Chương trình xuống 1, nhưng vẫn giữ nhiều hệ thống tiêu chí, định mức, quy trình phân bổ, hồ sơ thanh toán, chế độ báo cáo và cơ sở dữ liệu khác nhau, không những không giảm được thủ tục mà còn có nguy cơ tạo thêm một tầng điều phối bên trên. Khi đó, “một Chương trình” có thể trở thành một chiếc vỏ lớn chứa nhiều chương trình nhỏ bên trong. Vì vậy, cần phải kiên quyết tránh hai khuynh hướng.

Một mặt, không được cơ học hóa việc hợp nhất, xóa bỏ mọi khác biệt giữa các lĩnh vực. Giáo dục, y tế, văn hóa hay đầu tư hạ tầng có đặc thù chuyên môn, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu quản lý khác nhau. Chính hồ sơ cũng xác định cơ chế đặc thù không được mở rộng sang các dự án giáo dục đại học, y tế, văn hóa hoặc dự án có yêu cầu kỹ thuật, mua sắm, quản lý tài sản phức tạp. 

Mặt khác, những gì có thể và cần thống nhất nên thống nhất: Quy trình lập kế hoạch; nguyên tắc phân bổ và điều phối nguồn lực; hệ thống dữ liệu; chế độ báo cáo; phương pháp theo dõi, đánh giá; trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp.

Bên cạnh đó, dữ liệu phải trở thành “xương sống” của quản trị Chương trình. Một hệ thống dữ liệu chung phải cho phép nhìn được từ tổng nguồn lực xuống từng địa bàn, từng nhóm mục tiêu, từng đối tượng thụ hưởng; đồng thời phát hiện hỗ trợ trùng lặp hoặc khoảng trống chính sách. Hồ sơ thẩm tra cũng yêu cầu dữ liệu phải phân tách được theo nguồn vốn, địa bàn, đối tượng, giới tính, dân tộc, nhóm tuổi, tình trạng khuyết tật và mức sống. 

Cuối cùng, với quy mô nguồn lực lớn, phân cấp phải đi cùng minh bạch và trách nhiệm giải trình. Trung ương không nên can thiệp quá sâu vào từng dự án cụ thể của địa phương, nhưng phải kiểm soát chặt mục tiêu, tiêu chí, kết quả và dữ liệu. Địa phương được chủ động lựa chọn cách làm nhưng phải giải trình được nguồn lực đã tạo ra kết quả gì cho người dân.

Nếu thống nhất được mục tiêu, nguồn lực, dữ liệu, quy trình và trách nhiệm, quy mô lớn có thể trở thành lợi thế để tập trung nguồn lực. Hợp nhất vì thế phải đi đến tận cùng của đổi mới quản trị, không dừng ở việc sắp xếp lại cơ cấu hành chính.

Xin trân trọng cảm ơn bà!

Nguyễn Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân tộc (Thực hiện)
Thái Nguyên: Quyết liệt thực hiện chương trình MTQG giảm nghèo bền vững 
Thái Nguyên: Quyết liệt thực hiện chương trình MTQG giảm nghèo bền vững 

Thực hiện Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, tỉnh Thái Nguyên tiếp tục đẩy mạnh triển khai đồng bộ các dự án, tiểu dự án trong năm 2025. Với sự chỉ đạo sát sao của cấp ủy, chính quyền các cấp, chương trình đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN