PGS.TS Lê Thị Thu Hiền, Cục trưởng Cục Di sản Văn hoá (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho rằng, điều quan trọng nhất hiện nay là chuyển từ tư duy “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn thích ứng”, từ “quản lý di sản” sang “quản trị di sản”, xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng, doanh nghiệp, các nhà khoa học và các tổ chức quốc tế để cùng chia sẻ trách nhiệm và cùng tạo ra giá trị cho di sản.
Đây cũng là xu hướng quản trị di sản đang được UNESCO và các tổ chức tư vấn quốc tế thúc đẩy. Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho sự chuyển đổi này thông qua việc tăng cường phân cấp, phân quyền, khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò chủ thể của từng cộng đồng, cá nhân và gắn bảo tồn với phát triển bền vững…
PGS.TS Lê Thị Thu Hiền nhấn mạnh, các địa phương có di sản được UNESCO ghi danh cần đưa vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá trở thành một nội dung xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, quy hoạch đô thị, quy hoạch du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa từ địa phương đến Trung ương. Mọi hoạt động khai thác giá trị di sản văn hoá phải dựa trên nguyên tắc bảo đảm giá trị nổi bật toàn cầu của di sản và lợi ích lâu dài của cộng đồng. Đặc biệt cần đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hoá, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ số để nâng cao hiệu quả quản trị, đồng thời tạo ra những trải nghiệm mới, hấp dẫn hơn cho công chúng.
Quản lý hơn 40 di tích, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế những năm gần đây đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ… Từ định danh số cổ vật, triển lãm số đến công nghệ VR/AR và metaverse, các nền tảng số đang mở thêm những cách tiếp cận mới, đưa di sản đến gần công chúng theo hướng trực quan, sinh động và giàu tính tương tác hơn.
Tại Quảng Ninh, di sản đang được số hóa đồng bộ từ tư liệu, hiện vật đến không gian di tích. Mô hình 3D, công nghệ VR360 giúp tái hiện chính xác không gian di sản, phục vụ lưu trữ, nghiên cứu, giáo dục và trải nghiệm. Tại Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử, các mã QR giúp du khách chủ động tiếp cận thuyết minh đa phương tiện, từ âm thanh, hình ảnh, video đến thực tế ảo. Ban Quản lý đang xây dựng cơ sở dữ liệu số đa ngôn ngữ, hướng tới cá nhân hóa trải nghiệm cho du khách quốc tế. Đội ngũ hướng dẫn viên cũng đang chuyển từ vai trò thuyết minh truyền thống sang sản xuất nội dung số, xây dựng kho dữ liệu chuyên sâu, chính xác và sinh động để du khách khai thác trực tiếp trên các thiết bị thông minh.
Một buổi chiều, ở một không gian di sản, du khách có thể đứng trước một công trình hàng trăm năm tuổi, hay khung cảnh núi non hữu tình…, giơ điện thoại lên chụp một bức ảnh rồi rời đi. Nhưng nếu họ được nghe câu chuyện về những con người từng sống trong công trình ấy, được gặp một nghệ nhân, tự tay làm một sản phẩm truyền thống, thưởng thức món ăn địa phương, hay tham gia một nghi lễ cộng đồng, chuyến đi sẽ trở thành một ký ức. Chính ký ức mới là thứ khiến du khách nhớ mãi, muốn quay trở lại.
Dành một buổi tại Việt Nam để khám phá nghệ thuật truyền thống, nữ du khách Thổ Nhĩ Kỳ Mina cho biết cô đặc biệt yêu thích những giá trị văn hóa lâu đời của Việt Nam. Với cô, sức hấp dẫn của nghệ thuật truyền thống nằm ở sự độc đáo của trang phục, hóa trang, diễn xuất và cách các yếu tố ấy hòa quyện trên sân khấu. Là người làm việc trong lĩnh vực thời trang, Mina càng hứng thú với việc tìm hiểu văn hóa xưa và cách những giá trị truyền thống được gìn giữ, tiếp nối và hiện diện trong đời sống đương đại.
“Khi một người bạn nói sắp có buổi biểu diễn tại nhà hát và rủ đến xem, tôi đã ngay lập tức đồng ý. Trước đó, tôi cũng tìm hiểu một chút trên mạng và nghe bạn kể thêm các câu chuyện được thể hiện trong vở diễn. Tôi rất mong chờ được xem những câu chuyện ấy được kết nối và thể hiện như thế nào thông qua loại hình nghệ thuật này. Tôi cũng hy vọng sẽ hiểu thêm về sân khấu truyền thống Việt Nam, từ trang phục, diễn xuất, lời ca đến cách tất cả những yếu tố ấy được kết hợp để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh…”, chị Mina chia sẻ.
Để một du khách đến, ở lại lâu hơn, quay trở lại, hay kể những câu chuyện tốt đẹp về Việt Nam, điều quan trọng nhất là phải tạo ra những trải nghiệm văn hóa chân thực, sâu sắc và giàu cảm xúc. Du khách quốc tế hôm nay không chỉ muốn nhìn ngắm một công trình, nghe giới thiệu vài thông tin, hay chụp một bức ảnh. Họ muốn hiểu câu chuyện phía sau di sản, gặp gỡ con người đang gìn giữ di sản, tham gia vào những hoạt động thực hành văn hóa và cảm nhận nhịp sống của cộng đồng địa phương.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn cần chuyển từ tư duy “đưa khách đến điểm tham quan” sang “đưa du khách vào một hành trình khám phá văn hóa”. Mỗi di sản cần có một câu chuyện riêng, một bản sắc riêng và những sản phẩm trải nghiệm riêng. Đó có thể là hành trình khám phá di sản vào ban đêm, các chương trình nghệ thuật được dàn dựng có chiều sâu, lớp học thủ công, ẩm thực truyền thống, không gian sáng tạo, hoạt động giao lưu với nghệ nhân, hay các tuyến du lịch kết nối di sản với làng nghề, cảnh quan và đời sống cộng đồng…
Song, một không gian di sản dù có giá trị nổi bật đến đâu nhưng thiếu sạch sẽ, dịch vụ thiếu chuyên nghiệp, thông tin nghèo nàn, cách ứng xử chưa thân thiện… có thể để lại những ấn tượng không mong muốn. PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, chất lượng dịch vụ và cảm xúc của du khách phải được coi trọng. Mỗi người dân, người bán hàng, hướng dẫn viên, lái xe hay cán bộ quản lý tại khu di sản đều có thể trở thành một “đại sứ văn hóa”.
Điều khiến một du khách nhớ lâu về Việt Nam có thể chỉ là một câu chuyện nhân văn, một nụ cười thân thiện, một ứng xử tử tế, hay cảm giác được tôn trọng và chào đón. Khi du khách cảm thấy mình không chỉ là người mua dịch vụ mà là người bạn được chia sẻ những giá trị văn hóa, họ sẽ tự nguyện trở thành những người kể chuyện tích cực về Việt Nam…
Giữa tháng 5 vừa qua, một video ngắn về Tam Cốc - Bích Động và Hang Múa (tỉnh Ninh Bình) được hai du khách Ba Lan và Mỹ ghi lại, thu hút hơn 1 triệu lượt xem trên các nền tảng số. Những thước phim về dòng sông uốn lượn giữa núi đá vôi, những cánh đồng xanh trải dài dưới chân núi và vẻ đẹp ngoạn mục nhìn từ Hang Múa được chia sẻ rộng rãi, tạo nên một “cơn sốt” trên mạng xã hội. Không phải một video được dàn dựng bởi một ê-kíp chuyên nghiệp, chỉ là những gì hai vị khách nhìn thấy, cảm nhận và ghi lại trong hành trình của mình. Nhưng từ những thước phim ấy, hàng triệu người trên thế giới có cơ hội biết đến Ninh Bình…
Nếu trải nghiệm trực tiếp giúp du khách “chạm” vào di sản, thì trong bối cảnh hiện đại, công nghệ số có thể mở thêm một cánh cửa để di sản đi xa hơn. Nghị quyết số 80-NQ/TW nêu rõ, cần đổi mới nội dung, phương thức truyền thông và quảng bá văn hóa, xây dựng những câu chuyện hấp dẫn về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam dựa trên nền tảng cốt lõi là giá trị di sản để tạo dựng hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế. Trong thời đại số, câu hỏi không còn đơn giản là Việt Nam có bao nhiêu di sản được UNESCO ghi danh. Điều quan trọng hơn là thế giới hiểu gì về những giá trị, câu chuyện và con người tạo nên những di sản ấy.
PGS.TS Lê Thị Thu Hiền nhấn mạnh, đổi mới cách kể câu chuyện về di sản văn hoá chính là chìa khóa để lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam và phát huy sức mạnh mềm quốc gia. Đổi mới cách kể chuyện cũng đồng nghĩa với đổi mới phương thức truyền thông. Để làm được điều đó, công nghệ số sẽ là một trong những công cụ quan trọng giúp đổi mới cách kể chuyện.
“Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hành lang pháp lý, tiêu chuẩn dữ liệu hệ thống nền tảng cho cơ sở dữ liệu số quốc gia về di sản văn hóa, phát triển các nền tảng số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ quét 3D, thực tế ảo, thực tế tăng cường, bản đồ số và hệ thống thuyết minh thông minh để chuyển những tư liệu, hiện vật và giá trị di sản văn hoá thành những câu chuyện trực quan, sinh động, thân thiện, mang bản sắc văn hoá và có tính tương tác cao…
Đây sẽ là phương thức hiệu quả để đưa di sản văn hoá đến gần hơn với đời sống, khơi dậy niềm tự hào, ý thức gìn giữ và trao truyền những giá trị văn hóa dân tộc. Cùng với đó, tiếp tục nghiên cứu để quy định cơ chế, khai thác, phát huy giá trị di sản văn hoá trên môi trường số, khai thác dữ liệu di sản văn hoá, số hoá di sản văn hoá phục vụ cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong quy định của dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hoá…”, Cục trưởng Lê Thị Thu Hiền nhấn mạnh.
Đúng như tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW, mục tiêu không chỉ là bảo tồn các giá trị văn hóa, mà còn phải đổi mới phương thức truyền thông, quảng bá và kể những câu chuyện hấp dẫn về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Với lĩnh vực di sản văn hoá, điều đó có nghĩa là để mỗi di sản không chỉ lưu giữ ký ức của dân tộc, mà còn trở thành cầu nối đối thoại văn hóa, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia và lan toả mạnh mẽ hơn về hình ảnh Việt Nam giàu truyền thống văn hoá, lịch sử, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc với bạn bè quốc tế trong kỷ nguyên số.
Bài cuối: Khai mở ‘mỏ vàng’ di sản, nâng tầm ngoại giao văn hóa
Bài: Hồng Phượng
Ảnh: Báo Tin tức và Dân tộc, NVCC
Trình bày: Hồng Phượng
26/08/2026 06:10