Đại biểu Quốc hội TP Hà Nội Nguyễn Anh Trí. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đưa kinh nghiệm khoa học vào đời sống và chính sách
Hơn 40 năm gắn bó với ngành y, Anh hùng Lao động, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí, Đại biểu Quốc hội khóa XIV, XV, Thành viên Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đã dành phần lớn sự nghiệp cho lĩnh vực huyết học - truyền máu. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội, ông lựa chọn một chuyên ngành khi đó còn nhiều khó khăn và gắn bó lâu dài với lĩnh vực này.
Đặc biệt, trên cương vị lãnh đạo Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, ông cùng các đồng nghiệp tham gia xây dựng, phát triển hệ thống truyền máu, ngân hàng máu và thúc đẩy phong trào hiến máu tình nguyện. "Lễ hội Xuân Hồng", "Hành trình Đỏ" là những chương trình có sức lan tỏa rộng, góp phần bổ sung nguồn máu phục vụ cấp cứu, điều trị và đưa hoạt động hiến máu tình nguyện đến gần hơn với cộng đồng.
Từ một yêu cầu cấp thiết của ngành y, hiến máu tình nguyện từng bước trở thành hoạt động xã hội thu hút đông đảo người dân tham gia, qua đó tạo thêm nguồn máu cho điều trị và lan tỏa tinh thần sẻ chia trong cộng đồng.
Những kinh nghiệm tích lũy trong nhiều năm khám, chữa bệnh và quản lý y tế cũng được Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí đưa vào các ý kiến đóng góp tại Quốc hội, đặc biệt trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến ngành y. Trong quá trình sửa đổi Luật Khám bệnh, chữa bệnh, nhiều vấn đề trực tiếp tác động đến hoạt động của hệ thống y tế như chức danh nghề nghiệp, Hội đồng Y khoa quốc gia, cơ chế tự chủ bệnh viện và quản lý tài sản công tại các cơ sở y tế đã được đề cập từ thực tế chuyên môn và quản lý.
Thiếu thuốc, thiếu vật tư y tế, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế hay thủ tục chuyển tuyến cũng là những vấn đề được đề cập từ thực tế quản lý và điều hành cơ sở y tế. Từ góc nhìn này, những bất cập của ngành không chỉ nằm ở chuyên môn mà còn liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người bệnh, điều kiện làm việc của đội ngũ y tế và khả năng vận hành của toàn hệ thống.
Trong quá trình tham gia xây dựng chính sách, pháp luật, ông còn đứng tên đề nghị xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính, sau được điều chỉnh thành đề nghị xây dựng Luật Bản dạng giới. Đây là vấn đề mới, liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của một nhóm người trong xã hội, đòi hỏi việc xây dựng chính sách phải dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn và cách tiếp cận nhân văn.
Bên cạnh công việc chuyên môn và những đóng góp trong xây dựng chính sách, pháp luật, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí còn thực hiện gìn giữ di sản của giới khoa học Việt Nam. Từ mong muốn lưu giữ những tài liệu, hiện vật, ký ức và câu chuyện về cuộc đời các nhà khoa học trước nguy cơ thất lạc theo thời gian, Trung tâm và Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam được xây dựng và từng bước phát triển.
Đến nay, hệ thống đã sưu tầm, lưu giữ hơn 1 triệu tài liệu, hiện vật của trên 7.000 nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực. Trong đó có bản thảo nghiên cứu, thư từ, nhật ký và nhiều vật dụng gắn với quá trình làm khoa học. Những tài liệu, hiện vật này không chỉ phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của từng cá nhân mà còn phần nào tái hiện chặng đường phát triển của khoa học Việt Nam, từ điều kiện nghiên cứu, môi trường đào tạo đến những đóng góp của nhiều thế hệ trí thức.
Cùng với việc sưu tầm, công tác số hóa dữ liệu, xây dựng các hình thức trưng bày và tổ chức hoạt động giáo dục cũng được chú trọng, giúp kho tư liệu không chỉ được bảo quản mà còn từng bước phục vụ cộng đồng, mở rộng giá trị từ lưu giữ ký ức sang giáo dục và truyền cảm hứng cho thế hệ sau.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Anh Trí từng bày tỏ mong muốn hiến tặng Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam cho Nhà nước. Với mong muốn đó, những tư liệu đã được sưu tầm không chỉ là tài sản của một cá nhân hay tổ chức, mà còn phản ánh quá trình lao động, nghiên cứu và cống hiến của nhiều thế hệ nhà khoa học, cần được tiếp tục gìn giữ và khai thác để phục vụ cộng đồng.
Đưa lịch sử trở thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai
GS, TSKH Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN
Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, có nhiều năm nghiên cứu, giảng dạy và tham gia các chương trình khoa học lớn về lịch sử Việt Nam, trong đó luôn nhấn mạnh rằng nghiên cứu lịch sử không chỉ nhằm làm rõ những vấn đề của quá khứ mà còn phải góp phần cung cấp căn cứ khoa học cho nhận thức xã hội, giáo dục thế hệ trẻ và những yêu cầu đang đặt ra trong quá trình phát triển đất nước.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thế hệ các nhà sử học đi trước, đặc biệt là Giáo sư Phan Huy Lê. Trong ký ức của mình, người thầy ấy luôn hiện lên với hình ảnh làm việc gần như quên mình, ý thức sâu sắc về trách nhiệm của nhà sử học đối với đất nước và không ngừng tìm tòi những vấn đề mới để khoa học lịch sử đóng góp nhiều hơn cho xã hội.
Từ nền tảng được đào tạo tại Đại học Tổng hợp Hà Nội và sau đó tại Đại học Quốc gia Moskva mang tên Lomonosov, phương pháp định lượng, thống kê đã được đưa vào nghiên cứu lịch sử, đặc biệt trong quá trình xử lý nguồn tư liệu địa bạ với khối lượng lớn, qua đó mở ra những cách tiếp cận mới đối với lịch sử kinh tế - xã hội và giúp việc nghiên cứu không chỉ dựa trên mô tả mà còn có thêm cơ sở dữ liệu để phân tích, đối chiếu.
Từ hướng nghiên cứu đó, nhiều chương trình khoa học gắn với những vấn đề quan trọng của đất nước được triển khai, trong đó có nghiên cứu lịch sử các vùng đất, đổi mới hệ thống chính trị và quá trình hình thành, phát triển vùng đất Nam Bộ.
Các kết quả nghiên cứu về Nam Bộ không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn góp phần cung cấp tư liệu và luận cứ khoa học để nhận thức đầy đủ hơn về lịch sử hình thành, phát triển và chủ quyền của Việt Nam đối với vùng đất này, cho thấy sử học không chỉ giải thích quá khứ mà còn có thể góp phần làm rõ những vấn đề đang đặt ra trong hiện tại.
Một công việc được dành nhiều tâm huyết là tham gia Đề án khoa học xã hội cấp quốc gia nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam, thường được gọi là bộ Quốc sử, trong đó trực tiếp làm chủ biên hai tập và tham gia công tác tổng chủ biên. Theo thông tin được chia sẻ, khoảng 300 nhà nghiên cứu tham gia biên soạn bộ sách gồm 25 tập thông sử và 5 tập biên niên sự kiện, với tổng dung lượng khoảng 17.200 trang, tập hợp thành quả nghiên cứu của nhiều thế hệ sử học Việt Nam và tạo nền tảng tư liệu quan trọng cho nghiên cứu, giảng dạy, phổ biến lịch sử dân tộc.
Bên cạnh nghiên cứu chuyên sâu, cách truyền đạt lịch sử tới thế hệ trẻ cũng là vấn đề được đặc biệt quan tâm. Việc một bộ phận học sinh không hứng thú với môn Lịch sử không thể chỉ quy trách nhiệm cho người học mà cần được nhìn từ chương trình, phương pháp và cách tổ chức dạy học, bởi nếu học sinh phải ghi nhớ quá nhiều diễn biến, ngày tháng, địa danh, nhân danh mà chưa hiểu ý nghĩa của sự kiện thì lịch sử rất dễ trở thành một môn học nặng nề.
Khi tham gia xây dựng sách giáo khoa, một trong những yêu cầu được đặt ra là phải làm cho học sinh yêu thích môn học trước khi yêu cầu ghi nhớ một khối lượng kiến thức, đồng thời cần coi lịch sử là một khoa học, trong đó mỗi kết luận phải có căn cứ, có quá trình lập luận để người học hiểu vì sao sự kiện diễn ra như vậy, thay vì chỉ tiếp nhận những nội dung phải thuộc lòng.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Vũ Minh Giang, cần tăng các hoạt động trải nghiệm tại di tích, bảo tàng và những không gian gắn với lịch sử để người học có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với dấu tích của quá khứ, từ đó việc học không chỉ dừng ở ghi nhớ mà còn tạo được sự hứng thú, khơi gợi nhu cầu tìm hiểu và giúp lịch sử trở nên gần gũi hơn với đời sống.
Từ cách tiếp cận đó, lịch sử còn được nhìn nhận như một nguồn tài nguyên có thể đóng góp cho phát triển công nghiệp văn hóa, bởi những chiến thắng, nhân vật, di tích và câu chuyện lịch sử hoàn toàn có thể được chuyển hóa thành sản phẩm bảo tàng, nghệ thuật, du lịch, điện ảnh và nhiều loại hình văn hóa khác, vừa góp phần bảo tồn những giá trị của quá khứ, vừa tạo ra những sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của công chúng hiện nay.
Trong nhiều năm làm công tác đào tạo, việc giảng dạy các thế hệ sinh viên, hướng dẫn học viên cao học, nghiên cứu sinh và giới thiệu lịch sử Việt Nam tại một số trường đại học ở nước ngoài cũng được xem là một phần quan trọng của quá trình trao truyền tri thức, bởi đóng góp của người làm khoa học không chỉ nằm ở số lượng công trình đã công bố mà còn ở khả năng đào tạo con người, truyền lại phương pháp nghiên cứu và khơi dậy niềm say mê khám phá tri thức.
Với lịch sử, giá trị của nghiên cứu vì thế không dừng ở việc hiểu đúng quá khứ mà còn nằm ở khả năng làm cho những giá trị ấy tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về dân tộc, tạo thêm cơ sở cho giáo dục, văn hóa và mở rộng những cách khai thác tri thức lịch sử phục vụ sự phát triển của xã hội.