Kinh tế về trí tuệ nhân tạo kỳ vọng đóng góp khoảng 6% GDP

Theo Chiến lược quốc gia về Trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI; kinh tế AI đạt khoảng 6% GDP, năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10 - 15% và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI đạt khoảng 5 tỷ USD.

Chiến lược xác định bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI, trong đó AI được xác định là năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức đến vận hành. Nhân lực, hạ tầng và dữ liệu là nền tảng; thể chế và quản trị AI là khâu đột phá.

Trí tuệ nhân tạo trở thành năng lực cốt lõi

Ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo cho biết: Một trong những điểm đáng chú ý là sự chuyển hướng từ việc nghiên cứu, phát triển, ứng dụng AI sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI.

Chú thích ảnh
Ứng dụng công nghệ AI tại doanh nghiệp.

Theo đó, AI không chỉ được xem là một công cụ hỗ trợ mà được đặt vào ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành. Chiến lược lấy nhân lực, hạ tầng và dữ liệu làm nền tảng, đồng thời xác định thể chế và quản trị AI là khâu đột phá.

Theo ông Nguyễn Khắc Lịch, việc triển khai AI phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, quản lý tập trung, lấy con người làm trung tâm và gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện.

Việt Nam sẽ phát triển nhân lực, phổ cập kỹ năng AI toàn dân; phát triển đồng bộ hạ tầng, dữ liệu, mô hình và nền tảng AI, bảo đảm an toàn, an ninh và chủ quyền AI.

Trong hệ sinh thái này, doanh nghiệp AI Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực, tập trung phát triển các sản phẩm, dịch vụ “Make in Vietnam” và doanh nghiệp AI-native. Hợp tác quốc tế được triển khai gắn với năng lực nội sinh, tự chủ chiến lược, đa dạng hóa đối tác, công nghệ và chuỗi cung ứng.

Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI trong ASEAN và châu Á. Hệ thống mục tiêu được xây dựng theo 4 tầng gồm tác động, kết quả, sản phẩm đầu ra và đầu vào.

Ở tầng tác động, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI; kinh tế AI đạt khoảng 6% GDP; năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10 - 15%; xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI đạt khoảng 5 tỷ USD.

Ở tầng kết quả, chiến lược đặt mục tiêu 60% doanh nghiệp ứng dụng AI cải thiện hiệu quả hoạt động; 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng AI công vụ hằng tuần; 60% quyết định điều hành được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI. Mức độ hài lòng với dịch vụ công có AI được đặt mục tiêu tăng ít nhất 30%.

Đặt mục tiêu phổ cập kỹ năng AI

Một trong những nội dung đáng chú ý của chiến lược là phát triển nguồn nhân lực AI theo nhiều cấp độ, từ nhân lực chuyên sâu đến phổ cập kỹ năng cho người lao động.

Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển 10.000 nhân lực AI trình độ cao và 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI.

Cùng với đó, 500.000 lao động sẽ được đào tạo, đào tạo lại để triển khai, vận hành AI; 10 triệu lao động đã qua đào tạo được trang bị kỹ năng AI cơ bản.

Về sản phẩm đầu ra, chiến lược đặt mục tiêu 100% bộ, ngành, địa phương có kế hoạch triển khai; 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ bởi AI.

Việt Nam sẽ hình thành nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia, nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt, ít nhất 5 nền tảng AI dùng chung, 10 thương hiệu AI Việt Nam và 8 mô hình AI tiếng Việt theo 4 quy mô.

Ở tầng đầu vào, tổng đầu tư cho AI được đặt mục tiêu đạt 1 - 1,5% GDP mỗi năm. Chiến lược xác định 9 trụ cột phát triển gồm: nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân; dữ liệu, mô hình AI; hạ tầng AI; nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI; AI trong quản trị quốc gia; AI cho các ngành, lĩnh vực; AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã; hệ sinh thái AI; quản trị AI an toàn, đáng tin cậy.

Theo ông Nguyễn Khắc Lịch, trí tuệ nhân tạo sẽ được thúc đẩy trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội trọng điểm, từ khoa học, công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, y tế, giáo dục đến văn hóa, môi trường, quốc phòng và an ninh.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia. AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội.

Để chuyển các mục tiêu thành kết quả thực tế, chiến lược được cụ thể hóa bằng 32 chỉ tiêu và 97 nhiệm vụ, giải pháp thuộc 14 nhóm.

Mỗi nhiệm vụ xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, đơn vị thực hiện, sản phẩm hoặc kết quả và thời gian thực hiện. Việc triển khai huy động sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo, tổ chức xã hội và hiệp hội.

Chiến lược đưa ra 6 nhóm giải pháp đột phá gồm hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi; huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí; hợp tác quốc tế và xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; tuyên truyền, nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm; đo lường, giám sát và đánh giá.

Việc thực hiện gắn với trách nhiệm người đứng đầu và nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc
Chuyển đổi số vẫn còn khoảng cách giữa hệ thống và thực tế
Chuyển đổi số vẫn còn khoảng cách giữa hệ thống và thực tế

Dù nhiều nền tảng, hệ thống số đã được xây dựng và kết nối, quá trình chuyển đổi số trong cơ quan Nhà nước vẫn còn khoảng cách. Đặc biệt, dịch vụ công trực tuyến chưa đồng đều, một số quy trình chưa vận hành toàn trình, kết nối dữ liệu còn bất cập, khiến trải nghiệm của người dân, doanh nghiệp chưa đạt như kỳ vọng.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN