Để làm rõ việc ứng dụng Nghị quyết số 57-NQ/TW (Nghị quyết 57) trong sản xuất, chuyển đổi số, quản lý an toàn thực phẩm bằng chương trình Tick xanh trách nhiệm, phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã trao đổi với Tiến sĩ Đào Hà Trung, Chủ tịch Hội Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị đang quản lý hệ thống “Suất ăn minh bạch - Tick xanh trách nhiệm” nhằm hỗ trợ kiểm soát chất lượng suất ăn học đường tại TP Hồ Chí Minh.
Thưa ông, Nghị quyết 57 đã mở ra hướng tiếp cận mới như thế nào đối với ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất?
Phát triển công nghệ cao không còn là câu chuyện muốn hay không muốn mà đã trở thành yêu cầu thiết yếu. Khoa học và công nghệ giúp doanh nghiệp nâng năng suất, kiểm soát chất lượng, giảm chi phí và giúp cả quản lý Nhà nước giải quyết những vấn đề mới phát sinh mà phương pháp cũ không đáp ứng được.
Đối với Việt Nam, điều cần thiết lúc này là chúng ta tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng được gì từ những công nghệ đã xuất hiện. Hãy chuyển đổi tư duy sử dụng những công cụ riêng lẻ sang đổi mới cả nền tảng và tư duy về phương thức sản xuất, quản trị mới. Nếu chỉ đưa thêm phần mềm, mã QR, trí tuệ nhân tạo vào quy trình cũ thì công nghệ chỉ giúp làm cách cũ nhanh hơn, chưa tạo ra thay đổi căn bản để theo kịp thời đại.
Việt Nam có lực lượng trí thức trẻ, năng động và tiếp cận công nghệ nhanh. Vấn đề là phải tạo môi trường ứng dụng và đo đạc kết quả rõ rệt để nguồn nhân lực này tham gia giải quyết những bài toán cụ thể của cuộc sống. Vấn đề tiếp theo là công nghệ không có biên giới nên Việt Nam cần phát huy nguồn lực trong nước, đồng thời tận dụng tri thức và thành tựu khoa học của những người Việt sống và làm việc ở nước ngoài.
Thưa ông, công nghệ có thể thay đổi cách quản lý, giám sát và truy xuất nguồn gốc thực phẩm ra sao?
Hiện nay, vấn đề an toàn thực phẩm là lĩnh vực rất phù hợp để đưa tinh thần Nghị quyết 57 vào thực tế, bởi vấn đề này liên quan trực tiếp đến sức khỏe người dân và có chuỗi cung ứng rất rộng. Nếu tiếp tục quản lý chủ yếu bằng hồ sơ giấy và kiểm tra thủ công, cơ quan chức năng không thể theo dõi giám sát nhanh chóng một số lượng lớn các cơ sở sản xuất, kinh doanh, bếp ăn, điểm bán và sự đa dạng của sản phẩm.
Một hệ thống dữ liệu trung thực và theo thời gian thực có thể ghi nhận nguồn gốc sản phẩm, kết quả kiểm nghiệm, lịch sử vi phạm, điều kiện bảo quản, quá trình vận chuyển và phản ánh của người tiêu dùng. Trí tuệ nhân tạo có thể phân tích dữ liệu để xác định cơ sở hoặc chuỗi cung ứng có nguy cơ cao, giúp cơ quan quản lý và kiểm tra tập trung vào những điểm yếu ,mối nguy cơ cao chứ không dàn trải tiêu tốn nguồn lực có hạn.
Khi xảy ra sự cố, hệ thống phải có khả năng phục vụ mục đích an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm như khoanh vùng, thu hồi sản phẩm và cảnh báo người tiêu dùng nhanh hơn. Hệ thống truy xuất chuỗi cung ứng heo - gia cầm - trứng của UBND TP Hồ Chí Minh do Sở An toàn thực phẩm TP Hồ Chí Minh chủ trì được xây dựng và hoạt động từ 2016 đến nay là một ví dụ minh chứng rất cụ thể. Nhiều nước trên thế giới đã cử chuyên gia và cán bộ quản lý nhà nước đến TP Hồ Chí Minh để học tập kinh nghiệm Việt Nam khi đã thành công xây dựng và triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc thực phẩm trên phạm vi 10 tỉnh, thành với hơn 9.000 chủ thể tham gia.
Khi từng vật nuôi được định danh, các dữ liệu về giống, thức ăn, thuốc thú y, môi trường, dịch bệnh, vận chuyển và tiêu thụ sẽ được kết nối trong chuỗi an toàn thực phẩm. Trong hệ thống chuỗi an toàn thực phẩm này, các thông tin được cập nhật liên tục giúp người sản xuất sớm phát hiện, xử lý nguy cơ dịch bệnh, chất lượng sản phẩm và chủ động thích ứng với biến động thị trường, giá cả, thị hiếu tiêu dùng.
Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc thực phẩm theo chuỗi không đồng nghĩa với an toàn thực phẩm và khi dán mã QR sẽ an toàn tuyệt đối. Bởi nếu dữ liệu phía sau mã QR không đầy đủ, không được cập nhật hoặc thiếu cơ chế kiểm chứng, mã QR khi đó sẽ không mang lại nhiều giá trị. Hệ thống truy xuất nguồn gốc chỉ thiết kế với mục đích nhận diện chủ thể tham gia vào quá trình, còn đường đi của sản phẩm vẫn cần có sự giám sát và kiểm tra của cơ quan quản lý để biết được sản phẩm đó có an toàn thực phẩm hay không. Nguy hiểm hơn là có một số người tiêu dùng cũng đang hiểu nhầm sản phẩm có mã QR đồng nghĩa với việc sản phẩm đã được xác nhận an toàn thực phẩm.
Bên cạnh đó, công nghệ phải giúp cộng đồng và người tiêu thụ tham gia giám sát, kiểm chứng vì bộ máy Nhà nước không bao giờ đủ người làm việc này. Bài học thất bại của các nước giàu hơn Việt Nam, áp dụng công nghệ tiên tiến nhiều hơn và có hình phạt nặng nhất thế giới cho việc gây mất an toàn thực phẩm nhưng thất bại trong kiểm soát an toàn thực phẩm là do thiếu cơ chế để người dân cùng tham gia giám sát và cơ chế xử lý phản hồi của người tiêu dùng trực tiếp từ người bán hàng.
Đây chính là cơ chế mà hệ thống “Suất ăn minh bạch – Tick xanh trách nhiệm” sẽ thực hiện. Khi phát hiện sản phẩm có dấu hiệu bất thường, nhà bán lẻ, đơn vị cung cấp suất ăn hoặc nền tảng bán hàng phải tiếp nhận, giải trình trước người tiêu dùng, cơ quan quản lý. Những phản ánh đã được xác minh sẽ trở thành dữ liệu để cơ quan chức năng nhận diện nguy cơ.
Để những mô hình công nghệ này được ứng dụng rộng rãi, Nhà nước và doanh nghiệp cần làm gì, thưa ông?
Doanh nghiệp công nghệ cần chủ động đưa những giải pháp đã chứng minh hiệu quả vào thực tế, đồng thời bảo đảm sản phẩm dễ sử dụng, phù hợp nhu cầu và khả năng đầu tư của từng đơn vị. Về phía Nhà nước, cần xây dựng các không gian thử nghiệm, mạnh dạn đặt hàng và kết nối doanh nghiệp công nghệ với cơ quan quản lý, cơ sở sản xuất, chuỗi cung ứng trong nước cũng như quốc tế.
Không gian thử nghiệm không nhất thiết là một khu vực địa lý riêng biệt. Đây có thể là cơ chế cho phép triển khai giải pháp trong phạm vi được kiểm soát với trách nhiệm của từng bên, tiêu chí đánh giá và phương án xử lý rủi ro được xác định rõ. Kết quả thử nghiệm sẽ cung cấp dữ liệu để cơ quan quản lý hoàn thiện quy định và lựa chọn mô hình phù hợp để nhân rộng.
Việc thực hiện Nghị quyết 57 cũng không nên được đánh giá bằng số phần mềm được xây dựng hay số mã QR được dán trên các sản phẩm. Hiệu quả của Nghị quyết 57 vào thực tế sản xuất và an toàn thực phẩm phải thể hiện qua năng suất, chất lượng sản phẩm, khả năng phát hiện sớm nguy cơ, thời gian truy xuất và mức độ bảo vệ người tiêu dùng.
Khi những kết quả này được chứng minh bằng dữ liệu cụ thể, khoa học và công nghệ mới thực sự làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và quản lý Nhà nước. Đây cũng là cách đưa tinh thần Nghị quyết 57 thành những giá trị mà doanh nghiệp và người dân có thể trực tiếp thụ hưởng.
Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!