Đưa giáo dục đại học thành hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1810 ban hành Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Chiến lược xác định bước chuyển dịch căn bản từ phát triển theo quy mô sang tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả thực chất...
Chiến lược mới đặt mục tiêu đưa giáo dục đại học trở thành “hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia”, giữ vai trò nòng cốt trong việc đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, nghiên cứu khoa học và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt là chuyển đổi căn bản tư duy quản trị đại học, buộc các cơ sở đào tạo phải lấy giá trị đóng góp cho xã hội và giải quyết các bài toán chiến lược của đất nước làm thước đo chính.
Đến năm 2035, Việt Nam hướng tới các chỉ tiêu cụ thể: 100% cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn; Tỷ lệ học đại học trong nhóm dân số 18–22 tuổi đạt 45%; Người học sau đại học chiếm 15%; Người học các ngành STEM chiếm 40% quy mô ở mỗi trình độ; 90% người tốt nghiệp có việc làm phù hợp trong vòng 12 tháng.
Chiến lược đóng vai trò là “bản đồ phát triển” nhằm phân loại hệ thống theo các nhóm sứ mạng: Giáo dục đại học đại chúng: Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục; Các cơ sở trọng điểm: Làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quốc gia, ngành và vùng; Đại học tinh hoa: Phát triển từ 3 đến 5 cơ sở trong số khoảng 30 trường trọng điểm theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới.
Về quản lý, nhà nước sẽ chuyển từ quản lý hành chính nặng về thủ tục sang quản trị bằng dữ liệu và kiến tạo phát triển. Mở rộng quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình. Phương thức đầu tư công sẽ không phân bổ dàn đều mà tập trung vào các sứ mạng, sản phẩm đầu ra, ưu tiên các ngành công nghệ chiến lược và then chốt.
Dù quy mô giáo dục đại học đã có sự tăng trưởng đáng kể - đạt hơn 2,728 triệu người học trong năm học 2025-2026 - giai đoạn tới sẽ tập trung cải thiện chất lượng nguồn tuyển và chương trình đào tạo.
Trường đại học phải chuyển mạnh từ “đào tạo những gì mình đang có” sang “đào tạo những gì đất nước và xã hội cần” dựa trên dữ liệu nhu cầu thị trường lao động. Các ngành đào tạo kém chất lượng sẽ bị rà soát, trong khi các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược sẽ nhận được hỗ trợ thông qua học bổng và cơ chế đặt hàng. Chương trình đào tạo sẽ gia tăng tính thực hành, hợp tác doanh nghiệp để bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có năng lực làm việc thực sự.
Nhằm khắc phục tình trạng đầu tư nhỏ lẻ, Nhà nước sẽ tập trung xây dựng hạ tầng nghiên cứu dùng chung, phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm tính toán hiệu năng cao và hạ tầng số.
Chiến lược định hướng phát triển từ 20 đến 25 trung tâm nghiên cứu xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm cấp quốc tế. Mọi nguồn lực đầu tư phải chuyển hóa thành năng lực đào tạo, sáng chế, sản phẩm công nghệ và hợp đồng chuyển giao. Đồng thời, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2035 sẽ thu hút khoảng 5.000 giảng viên, nhà khoa học và chuyên gia quốc tế cũng như người Việt Nam ở nước ngoài về tham gia giảng dạy, nghiên cứu.
Chiến lược thiết lập bộ chỉ số cốt lõi gồm 5 nhóm đánh giá: Chất lượng đào tạo và việc làm của người học; Năng lực đội ngũ giảng viên, nhà khoa học; Kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Hiệu quả quản trị và sử dụng nguồn lực; Mức độ đóng góp thực tế cho xã hội, ngành và vùng.
Toàn bộ dữ liệu sẽ được kết nối trên nền tảng số quản trị giáo dục quốc gia, liên thông với dữ liệu bảo hiểm, thuế, việc làm và khoa học công nghệ. Việc đánh giá công bố khoa học sẽ không dừng lại ở lượng bài báo quốc tế (hiện chiếm trên 84% tổng số công bố Scopus toàn quốc) mà tập trung đo lường các sáng chế, doanh nghiệp khởi nguồn và tác động thực tế tới nền kinh tế - xã hội.
Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc