Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, đặc biệt khi chúng ta đang thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, phóng viên báo Tin tức đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Đại biểu Quốc hội khóa XVI đoàn TP Hà Nội về văn hóa với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn! Ông có đánh giá gì về vai trò của văn hóa trong việc đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?
Tôi cho rằng, trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, văn hóa không thể chỉ được nhìn như một lĩnh vực thụ hưởng thành quả của phát triển, mà cần được nhận diện đầy đủ như một nguồn lực trực tiếp tạo ra tăng trưởng, đồng thời là nền tảng bảo đảm cho tăng trưởng có chất lượng và bền vững. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên.
Để đạt được một mục tiêu rất cao như vậy, chúng ta chắc chắn không thể chỉ dựa vào những động lực tăng trưởng truyền thống, mà phải khơi thông mạnh mẽ các nguồn lực mới, trong đó có sức sáng tạo, tài sản trí tuệ, di sản, bản sắc, công nghiệp văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam.
Điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết 80-NQ/TW là đã đặt văn hóa ở một vị thế mới: Không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực lớn, một trụ cột và hệ điều tiết của phát triển nhanh, bền vững. Điều đó có ý nghĩa rất thực chất đối với kinh tế. Văn hóa tạo ra giá trị trực tiếp thông qua điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, quảng cáo, trò chơi điện tử, thời trang, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, kinh tế di sản và nhiều loại hình sáng tạo khác.
Nghị quyết 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, đồng thời hình thành 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Đây không chỉ là chỉ tiêu của riêng ngành văn hóa, mà là một phần của bài toán tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Nhưng đóng góp của văn hóa còn sâu hơn những con số doanh thu hay tỷ trọng GDP. Một môi trường văn hóa lành mạnh tạo ra con người có kỷ luật, trách nhiệm, sáng tạo, biết hợp tác và tôn trọng chuẩn mực; văn hóa kinh doanh tốt tạo niềm tin cho thị trường; bản sắc mạnh tạo sức hấp dẫn cho điểm đến, sản phẩm và thương hiệu quốc gia.
Vì vậy, khi nói đến tăng trưởng hai con số, tôi nghĩ điều quan trọng không phải chỉ là tăng nhanh hơn, mà là tăng trưởng bằng năng suất cao hơn, bằng sáng tạo nhiều hơn, bằng những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ và bản sắc lớn hơn. Ở góc độ đó, văn hóa vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa tạo ra chất lượng của chính quá trình phát triển.
Việc nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, giá trị của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội là rất quan trọng; nhất là việc chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Ông có ghi nhận, đánh giá gì trong việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa thời gian qua?
Tôi ghi nhận những chuyển biến khá rõ trong vài năm gần đây. Nếu trước đây ứng dụng công nghệ trong văn hóa chủ yếu được hiểu là số hóa tài liệu, đưa thông tin lên website hay sử dụng mạng xã hội để quảng bá, thì hiện nay chúng ta đã bắt đầu tiếp cận chuyển đổi số theo nghĩa rộng hơn: Công nghệ tham gia vào cả chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối, quảng bá, trải nghiệm và quản trị văn hóa.
Chúng ta đã thấy nhiều bảo tàng, di tích, không gian văn hóa ứng dụng công nghệ 3D, thực tế ảo, thực tế tăng cường, trình chiếu mapping, thuyết minh thông minh, vé điện tử; các đơn vị nghệ thuật mở rộng khán giả trên nền tảng số; nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo sử dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và các công cụ số trong quá trình sáng tác, sản xuất, truyền thông.
Đáng chú ý hơn, chính sách đang chuyển từ những dự án đơn lẻ sang xây dựng hạ tầng chung. Nghị quyết 80-NQ/TW xác định ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những lĩnh vực đột phá; Nghị định 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số đã đặt nền móng cho kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu văn hóa ở quy mô lớn hơn.
Tuy nhiên, tôi cho rằng chúng ta mới đi được những bước đầu. Điểm nghẽn hiện nay không còn chỉ là “có số hóa hay không”, mà là dữ liệu có chuẩn hóa không, có liên thông không, có được khai thác để tạo sản phẩm và dịch vụ mới không, và cuối cùng có tạo ra giá trị cho người dân, nghệ sĩ, doanh nghiệp và nền kinh tế hay không. Một di sản được quét 3D nhưng nằm yên trong máy chủ thì chưa thể gọi là chuyển đổi số thành công. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi dữ liệu trở thành nguyên liệu cho sáng tạo, giáo dục, du lịch, công nghiệp nội dung, nghiên cứu và kinh doanh.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải giải quyết đồng thời những vấn đề mới về bản quyền, quyền đối với dữ liệu, sản phẩm do AI tạo ra, đạo đức công nghệ, an ninh và chủ quyền văn hóa số. Vì vậy, tôi rất kỳ vọng vào sự chuyển dịch từ “số hóa tài sản văn hóa” sang “tạo ra giá trị mới từ tài sản văn hóa số”; từ đầu tư công nghệ đơn lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo văn hóa, trong đó Nhà nước kiến tạo hạ tầng và thể chế, doanh nghiệp tổ chức thị trường, còn nghệ sĩ, nhà sáng tạo và người dân thực sự trở thành chủ thể sáng tạo.
Để nâng cao hiệu quả quảng bá các giá trị thương hiệu văn hóa Việt Nam, theo ông chúng ta cần có mục tiêu, lộ trình, hướng đi nào để đưa văn hóa trở thành một trong những ngành mũi nhọn đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, thưa ông?
Theo tôi, trước hết cần thay đổi cách đặt vấn đề. Chúng ta không thể quảng bá văn hóa theo cách chỉ “giới thiệu những gì mình có”, mà phải tiến tới xây dựng những sản phẩm, biểu tượng và thương hiệu mà thế giới muốn biết, muốn trải nghiệm, muốn mua và muốn chia sẻ.
Tài nguyên văn hóa của Việt Nam rất phong phú, nhưng để tài nguyên trở thành nguồn lực kinh tế và sức mạnh mềm thì phải đi qua một chuỗi chuyển hóa: Từ di sản, câu chuyện, biểu tượng, giá trị văn hóa thành tài sản trí tuệ; từ tài sản trí tuệ thành sản phẩm sáng tạo; từ sản phẩm thành thương hiệu; và từ thương hiệu thành thị trường.
Về mục tiêu, tôi cho rằng cần bám sát các chỉ tiêu của Nghị quyết 80-NQ/TW, đặc biệt là mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và hình thành 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Nhưng phía sau những con số ấy phải là một chiến lược lựa chọn có trọng tâm. Việt Nam cần xác định một số lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh để đầu tư đủ lớn, đủ lâu và đủ chuyên nghiệp; hình thành các cụm sáng tạo, doanh nghiệp dẫn dắt, quỹ hỗ trợ, hệ thống đào tạo, cơ chế bảo vệ và khai thác sở hữu trí tuệ, cùng mạng lưới phân phối trong nước và quốc tế.
Về lộ trình, giai đoạn trước mắt cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, vốn, đất đai, thuế, bản quyền, dữ liệu, nhân lực và cơ chế hợp tác công - tư; đồng thời hoàn thiện hạ tầng văn hóa số và hệ thống đo lường đóng góp kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa.
Song song với đó phải xây dựng một số sản phẩm và thương hiệu có khả năng trở thành “đầu tàu”, bởi một quốc gia muốn có sức mạnh mềm mạnh thì cần những tác phẩm, nhân vật, lễ hội, bộ phim, sản phẩm thiết kế, trò chơi, không gian sáng tạo hay điểm đến mà khi nhắc tới, công chúng quốc tế có thể nhận ra ngay câu chuyện Việt Nam.
Tôi cũng cho rằng quảng bá văn hóa phải gắn chặt hơn với ngoại giao, du lịch, thương mại, đầu tư và truyền thông quốc gia. Mỗi bộ phim ra thế giới, mỗi nghệ sĩ thành công ở thị trường quốc tế, mỗi sản phẩm thiết kế mang bản sắc Việt Nam, mỗi di sản được kể bằng một ngôn ngữ hiện đại đều có thể trở thành một “đại sứ văn hóa”. Nhà nước cần tạo hành lang và những chương trình xúc tiến đủ mạnh; doanh nghiệp phải nhìn văn hóa như một lĩnh vực đầu tư dài hạn; còn đội ngũ sáng tạo cần được trao nhiều không gian hơn để thử nghiệm, cạnh tranh và vươn ra toàn cầu.
Cuối cùng, phát triển kinh tế từ văn hóa không có nghĩa là thương mại hóa mọi giá trị văn hóa. Điều quan trọng là làm cho giá trị kinh tế và giá trị văn hóa nâng đỡ lẫn nhau. Nếu chỉ chạy theo doanh thu, chúng ta có thể làm nghèo bản sắc; nhưng nếu chỉ bảo tồn mà không tạo ra đời sống mới cho di sản, chúng ta cũng khó phát huy được nguồn lực to lớn đang có.
Tôi nghĩ mục tiêu đúng nhất là biến văn hóa thành một nguồn lực phát triển có khả năng tái tạo: càng được sáng tạo, khai thác đúng cách và lan tỏa rộng rãi thì càng tạo thêm giá trị kinh tế, đồng thời làm giàu hơn bản sắc, niềm tự hào và sức hấp dẫn của Việt Nam. Đó chính là đóng góp đặc thù và lâu dài của văn hóa đối với mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Xin trân trọng cảm ơn ông!