Không chỉ dừng ở đào tạo nhân lực, mô hình này đang mở ra hướng đi mới trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với thực tiễn sản xuất.
Từ giảng đường đến doanh nghiệp
Một trong những ví dụ tiêu biểu cho mô hình hợp tác “3 nhà” hiện nay là Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông. Dưới định hướng của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các chương trình quốc gia về chuyển đổi số, phát triển công nghiệp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo, Học viện đã chủ động tái cấu trúc chương trình đào tạo theo nhu cầu thị trường, đồng thời đầu tư các phòng thí nghiệm chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo AI, an toàn thông tin, vi mạch và công nghệ số.
Sản phẩm ứng dụng VP/AR trải nghiệm khoảnh khắc thiêng liêng của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.
Trên nền tảng đó, nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn trong và ngoài nước như Intel, NAB Innovation Centre Vietnam, VNPT và FPT đã tham gia cùng Học viện xây dựng học phần, tài trợ phòng thí nghiệm, cử chuyên gia giảng dạy, đồng thời đặt hàng các nhóm nghiên cứu giải quyết những bài toán thực tiễn về dữ liệu lớn, điện toán đám mây, tự động hóa và an ninh mạng.
Không dừng ở đào tạo, mô hình hợp tác này còn mở ra hướng thương mại hóa kết quả nghiên cứu, hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp spin-off từ chính các nhóm nghiên cứu trong trường. Cách làm này cho thấy, khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách, nhà trường giữ vai trò nghiên cứu đào tạo, còn doanh nghiệp mang đến bài toán thị trường và năng lực ứng dụng, hệ sinh thái khoa học công nghệ có thể vận hành theo chu trình khép kín, rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường.
Ở lĩnh vực nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam cũng đang đẩy mạnh mô hình liên kết “3 nhà” theo hướng thực chất hơn. GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện cho rằng, yêu cầu đặt ra từ Nghị quyết 71 là giáo dục đại học phải gắn chặt với nhu cầu phát triển đất nước, với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và yêu cầu thực tiễn của thị trường lao động.
Theo bà Lan, lĩnh vực nông nghiệp và môi trường đang đối mặt nhiều thách thức như chuyển đổi xanh, nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải, thích ứng biến đổi khí hậu và chuyển đổi số. Điều đó đòi hỏi mô hình liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp phải đi vào chiều sâu hơn.
“Nhà nước không thể chỉ ban hành chính sách rồi chờ thực hiện. Nhà trường không thể chỉ đào tạo trong giảng đường. Doanh nghiệp cũng không thể chỉ tuyển dụng lao động sau đào tạo”, bà Lan nhấn mạnh.
Theo đó, lãnh đạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, liên kết “3 nhà” cần chuyển từ “phối hợp” sang “cùng làm”, trong đó doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ.
Tuy nhiên, hiệu quả thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ hiện vẫn còn hạn chế. Giai đoạn 2021–2025, ngành nông nghiệp và môi trường đã triển khai hơn 1.200 nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp bộ, nhưng số lượng sản phẩm thực sự đi vào sản xuất và thị trường còn thấp.
Nhiều doanh nghiệp cũng chia sẻ nhu cầu tuyển dụng và kỳ vọng vào mô hình liên kết “3 nhà”. Ông Nguyễn Văn Minh, Phó Tổng Giám đốc BAF Việt Nam cho biết, doanh nghiệp hiện không chỉ cần nhân lực ở các ngành chăn nuôi, thú y, trồng trọt mà còn có nhu cầu lớn về công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ thực phẩm và môi trường. Năm 2026, doanh nghiệp dự kiến tuyển khoảng 3.000 nhân sự, trong đó 25–30% đến từ các trường đại học.
Theo ông Minh, sinh viên hiện nay có nền tảng lý thuyết khá tốt nhưng còn thiếu trải nghiệm thực tế. Vì vậy, doanh nghiệp mong muốn đẩy mạnh mô hình “học kỳ doanh nghiệp”, tăng thời gian thực hành tại cơ sở sản xuất. “Chúng tôi sẵn sàng tiếp nhận không giới hạn sinh viên thực tập ở nhiều lĩnh vực và hỗ trợ chi phí ăn ở, phụ cấp thực tập”, ông Minh chia sẻ.
Ở góc độ hợp tác xã, ông Phan Văn Khiêm, đại diện Giò chả Vạn Xuân Tân Ước cho biết đơn vị đang phối hợp với Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong đào tạo nghề, kết nối sinh viên và ứng dụng thương mại điện tử vào tiêu thụ sản phẩm.
Theo ông Khiêm, sự đồng hành của nhà trường không chỉ giúp hợp tác xã nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn hỗ trợ đổi mới sáng tạo, xây dựng sản phẩm OCOP và đưa sản phẩm lên các nền tảng thương mại điện tử.
Từ góc độ cơ sở đào tạo, GS.TS Nguyễn Thị Lan cho rằng doanh nghiệp hiện không chỉ là đơn vị tuyển dụng mà cần trở thành đối tác đồng hành cùng nhà trường trong toàn bộ quá trình đào tạo và nghiên cứu.
“Doanh nghiệp giúp chúng tôi xây dựng chương trình đào tạo sát thực tiễn hơn, tạo môi trường để sinh viên thực hành, tiếp cận công nghệ mới và cùng đưa nhanh kết quả nghiên cứu ra thực tiễn”, bà Lan nói.
Hành lang pháp lý từng bước hoàn thiện
Trong khi đó, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, mô hình hợp tác “3 nhà” đang ngày càng được thể chế hóa rõ nét thông qua việc triển khai Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71, cùng nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy gắn kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp.
Đáng chú ý, Nghị định 125/2026/NĐ-CP lần đầu quy định trực diện, có hệ thống về hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học, trong đó phân vai rõ ràng giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp, gắn hợp tác với nhóm nghiên cứu mạnh, cơ chế chia sẻ lợi ích từ tài sản trí tuệ và thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu.
Cán bộ Bộ môn Công nghệ Môi trường, Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội hướng dẫn sinh viên thực tập tại phòng thí nghiệm. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đang xây dựng Đề án thúc đẩy hiệu quả mô hình “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, hướng tới hình thành dòng chảy nhân lực, công nghệ và đổi mới sáng tạo hai chiều trong hệ sinh thái quốc gia.
Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, mô hình “3 nhà” đang được triển khai với nhiều nhiệm vụ khoa học công nghệ trọng điểm, đồng thời chuẩn bị xây dựng phòng thí nghiệm AI-Edge theo mô hình hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.
Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Đà Nẵng cũng đang mở rộng hợp tác với hàng trăm doanh nghiệp công nghệ, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm đổi mới sáng tạo và nền tảng kết nối chuyển giao công nghệ.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ trong hai năm 2024–2025, số lượng công bố quốc tế của các cơ sở giáo dục đại học tiếp tục tăng trưởng hai con số; số sáng chế, giải pháp hữu ích cũng tăng mạnh, cho thấy hệ sinh thái nghiên cứu trong trường đại học đang từng bước chuyển từ nghiên cứu học thuật sang nghiên cứu gắn với ứng dụng và thương mại hóa.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, mô hình “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp” đang được kỳ vọng sẽ trở thành đòn bẩy chiến lược, giúp đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực mà còn là nơi tạo ra công nghệ, sản phẩm và những giá trị mới cho nền kinh tế.