Đưa di sản vào chuỗi giá trị kinh tế sáng tạo

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội mới để đưa di sản và bản sắc văn hóa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị kinh tế sáng tạo. Nhiều chuyên gia cho rằng đây là động lực quan trọng để phát triển công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú với hàng chục nghìn di tích lịch sử, hàng trăm di sản văn hóa phi vật thể cùng hệ thống lễ hội, làng nghề và các loại hình nghệ thuật truyền thống đa dạng. Đây là lợi thế đặc biệt để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa.

Tuy nhiên, trong nhiều năm, không ít giá trị văn hóa vẫn chủ yếu được lưu giữ trong các bảo tàng, kho tư liệu hay hoạt động bảo tồn truyền thống, trong khi khả năng chuyển hóa thành các sản phẩm sáng tạo có giá trị kinh tế và sức lan tỏa rộng rãi còn khá khiêm tốn.

Chú thích ảnh
Tiết mục văn nghệ truyền thống do các em sinh viên thể hiện mở màn chương trình.

Tại Hội thảo khoa học "Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số" do Báo Văn Hoá chủ trì, phối hợp với Trường Đại học Văn hoá TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 5/6 tại TP Hồ Chí Minh, nhiều chuyên gia cho rằng, chuyển đổi số đang mở ra cơ hội chưa từng có để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và giá trị.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa, điểm mới căn bản của Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị là đặt văn hóa trong mối quan hệ hữu cơ với kinh tế, công nghệ và thị trường.

Ông Vũ cho rằng, công nghiệp văn hóa không thể được hiểu đơn thuần là sự gia tăng số lượng sản phẩm văn hóa mà phải được nhìn nhận như một hệ sinh thái phát triển, nơi các yếu tố sáng tạo, công nghệ, vốn, quản trị và thị trường cùng tương tác để tạo ra giá trị mới.

Chú thích ảnh
Tiến sỹ Nguyễn Anh Vũ, Tổng Biên tập Báo Văn hóa phát biểu tại Hội thảo.

Đây cũng là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển, từ chỗ coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực bảo tồn và thụ hưởng sang xem văn hóa là nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực cho tăng trưởng bền vững.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Anh Vũ, phát triển công nghiệp văn hóa không phải là thương mại hóa giản đơn các giá trị tinh thần, càng không phải đánh đổi bản sắc để chạy theo thị hiếu. Bản chất của công nghiệp văn hóa là nâng tầm các giá trị truyền thống thông qua sáng tạo và công nghệ để những di sản văn hóa được "tái sinh" dưới những hình thức mới, phù hợp với đời sống đương đại.

Nếu Nghị quyết 80 mở ra một cách tiếp cận mới thì theo PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, điều quan trọng là phải nhận diện đúng nguồn lực cốt lõi của công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Theo ông Nhân, kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển mạnh đều dựa trên chính nền tảng văn hóa truyền thống và hệ giá trị bản sắc riêng.

Hàn Quốc tạo nên làn sóng Hallyu từ âm nhạc và điện ảnh; Nhật Bản đưa anime, manga cùng các giá trị văn hóa truyền thống trở thành sản phẩm có sức lan tỏa toàn cầu; trong khi Trung Quốc khai thác mạnh các yếu tố văn hóa cổ truyền trong điện ảnh, du lịch và truyền thông số.

PGS.TS Lâm Nhân cho rằng, di sản văn hóa không chỉ là đối tượng để bảo tồn mà cần được nhìn nhận như một nguồn lực nội sinh đặc biệt, tạo nên bản sắc, sức hấp dẫn và lợi thế cạnh tranh cho công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Chú thích ảnh
PGS.TS Lâm Nhân, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa và NSND Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh.

Theo PGS.TS Lâm Nhân, trong bối cảnh chuyển đổi số, việc số hóa di sản, ứng dụng công nghệ vào hoạt động bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh hay du lịch văn hóa không đơn thuần là thay đổi hình thức tiếp cận công chúng mà còn mở ra cơ hội để các giá trị truyền thống tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị kinh tế sáng tạo.

Thực tế những năm gần đây cho thấy, nhiều sản phẩm văn hóa của Việt Nam đã bước đầu chứng minh tiềm năng này. Các chương trình nghệ thuật quy mô lớn, những bộ phim khai thác đề tài lịch sử, văn hóa dân tộc hay các không gian bảo tàng ứng dụng công nghệ số đang thu hút ngày càng đông đảo công chúng trẻ.

Theo PGS.TS Lâm Nhân, lợi thế lớn nhất của Việt Nam không nằm ở việc sao chép mô hình của các quốc gia khác mà ở khả năng biến chính kho tàng di sản và bản sắc văn hóa dân tộc thành nguồn nguyên liệu cho sáng tạo, từ đó tạo ra những sản phẩm văn hóa mang dấu ấn riêng trên thị trường khu vực và quốc tế.

Nếu bản sắc và di sản là nguồn nguyên liệu thì công nghệ và bản quyền chính là công cụ để biến nguồn lực ấy thành giá trị kinh tế.

Theo ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), việc Trung ương, Quốc hội và Chính phủ liên tiếp ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28/2026/QH16 cùng Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với vai trò của công nghiệp văn hóa trong giai đoạn phát triển mới.

Chú thích ảnh
Ông Lê Minh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thông tin về vai trò của công nghiệp văn hóa trong giai đoạn phát triển mới.

Theo ông Lê Minh Tuấn, đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy "bảo tồn, phát huy và hưởng thụ văn hóa" sang tư duy "kiến tạo giá trị và phát triển kinh tế từ văn hóa".

Trong nền kinh tế tri thức và kinh tế số, tài sản trí tuệ, bản quyền, dữ liệu và tri thức sáng tạo đang trở thành những yếu tố cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ông Tuấn dẫn chứng, doanh thu nội dung số của Hàn Quốc hiện chiếm khoảng 80% tổng doanh thu ngành công nghiệp nội dung; các sản phẩm anime, manga và trò chơi điện tử của Nhật Bản mang về khoảng 30 tỷ USD mỗi năm; trong khi doanh thu từ các sản phẩm văn hóa số của Trung Quốc và Hoa Kỳ đều đạt hàng trăm tỷ USD.

Đối với Việt Nam, công nghiệp văn hóa cũng đang có những bước phát triển tích cực. Năm 2023, giá trị gia tăng của lĩnh vực này đạt 513,7 nghìn tỷ đồng, đóng góp 4,98% GDP; năm 2024 đạt 586,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 5,09% GDP, tăng trưởng 7,48% so với năm trước.

Theo ông Lê Minh Tuấn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, blockchain hay thực tế ảo đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là yêu cầu cấp thiết về bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan, bởi bản quyền chính là nền tảng để duy trì động lực sáng tạo trong môi trường số.

Ông đề xuất cần phát triển hạ tầng công nghệ và các nền tảng phân phối nội dung thuần Việt; lựa chọn các lĩnh vực như game, âm nhạc và điện ảnh để đầu tư trọng điểm; đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo hộ bản quyền và thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm văn hóa.

Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, công nghệ và thị trường chỉ là một phần của bài toán. Điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực sáng tạo vẫn là hoàn thiện thể chế.

PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và sự tái cấu trúc chuỗi giá trị sáng tạo toàn cầu, công nghiệp văn hóa ngày càng được nhìn nhận như nguồn lực nội sinh và thành tố quan trọng của sức mạnh mềm quốc gia.

Theo bà Phương, tư duy phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam đang chuyển dịch từ cách tiếp cận ngành văn hóa truyền thống sang cách tiếp cận hệ sinh thái sáng tạo gắn với dữ liệu, nền tảng số, đổi mới sáng tạo và sức mạnh mềm quốc gia.

"Yêu cầu hoàn thiện thể chế hiện nay không còn chỉ dừng ở hỗ trợ hoạt động văn hóa mà cần chuyển mạnh sang kiến tạo năng lực quản trị hệ sinh thái sáng tạo trong cả môi trường thực và môi trường số", bà Phương nhấn mạnh.

Chú thích ảnh
Chuyên gia và các đại biểu khách mời chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn hoạt động trong ngành công nghiệp văn hóa.

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thu Phương, cần xây dựng các cơ chế tài chính có khả năng kích hoạt đổi mới sáng tạo, chuyển cơ chế đặt hàng từ hỗ trợ đầu vào sang đánh giá hiệu quả đầu ra và tác động xã hội của sản phẩm văn hóa; đồng thời tăng cường quản trị liên ngành, kết nối văn hóa với công nghệ, truyền thông, du lịch và doanh nghiệp. Nếu thể chế là điều kiện để khơi thông nguồn lực thì nguồn nhân lực lại là yếu tố quyết định khả năng vận hành của hệ sinh thái đó.

Theo Tiến sỹ Trịnh Đăng Khoa, Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Văn hóa TP Hồ Chí Minh, khoảng cách lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa mô hình đào tạo "quản lý văn hóa" với yêu cầu "quản trị văn hóa" trong bối cảnh công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số. Ông Khoa cho rằng, chương trình đào tạo hiện còn nặng về quản lý hành chính, trong khi các nội dung về quản trị hệ sinh thái sáng tạo, vận hành thị trường văn hóa, phát triển sản phẩm văn hóa và ứng dụng công nghệ số chưa được tích hợp đầy đủ.

Để đáp ứng yêu cầu mới, cần tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng liên ngành, kết hợp kiến thức về quản trị, kinh tế, truyền thông, công nghệ và văn hóa; tăng cường đào tạo năng lực số, tư duy dữ liệu và kỹ năng đổi mới sáng tạo; đồng thời mở rộng liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, các tổ chức nghệ thuật và cộng đồng sáng tạo.

Theo Tiến sỹ Trịnh Đăng Khoa, việc xây dựng các mô hình đào tạo mở như "studio - lab - hub" sẽ giúp sinh viên tiếp cận môi trường sáng tạo thực tiễn, nâng cao khả năng thích ứng với thị trường lao động. Có thể thấy, bài toán phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở việc khai thác nguồn tài nguyên di sản phong phú mà còn phụ thuộc vào khả năng xây dựng đồng bộ một hệ sinh thái sáng tạo, nơi bản sắc văn hóa, công nghệ số, thể chế và nguồn nhân lực chất lượng cao được kết nối chặt chẽ với nhau.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trên không gian số, việc xây dựng hạ tầng văn hóa số, phát triển các nền tảng nội dung của Việt Nam, nâng cao năng lực số cho đội ngũ sáng tạo và từng bước hình thành chủ quyền văn hóa số sẽ là điều kiện quan trọng để các sản phẩm văn hóa Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Khi những giá trị truyền thống được tiếp thêm sức mạnh bởi công nghệ, tư duy quản trị mới và nguồn nhân lực sáng tạo, công nghiệp văn hóa sẽ không chỉ là một lĩnh vực kinh tế mới mà còn trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

Bài và ảnh: Hương Trần/Báo Tin tức và Dân tộc
Khơi thông nguồn lực, phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số
Khơi thông nguồn lực, phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số

Ngày 5/6, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Báo Văn hóa tổ chức Hội thảo khoa học "Triển khai Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị  - Phát triển công nghiệp văn hóa trong kỷ nguyên số".

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN