Tàu chở dầu thô cập cảng ở Mundra, Ấn Độ sau khi băng qua eo biển Hormuz, ngày 18/3/2026. Ảnh: ANI/TTXVN
Nỗi lo thủy lôi sau thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz
Thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz đã làm dấy lên hy vọng rằng hoạt động vận tải dầu mỏ qua tuyến hàng hải chiến lược này sẽ sớm được khôi phục, qua đó giúp xoa dịu nguy cơ khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Tuy nhiên, theo giới chuyên gia quân sự, việc nối lại lưu thông hàng hải có thể không đơn giản như những tuyên bố chính trị. Vấn đề lớn nhất hiện nay là liệu Iran có rải thủy lôi trong thời gian xung đột hay không, và nếu có thì cần bao lâu để phát hiện cũng như vô hiệu hóa toàn bộ số vũ khí này.
Cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng chắc chắn rằng Tehran đã triển khai thủy lôi tại eo biển Hormuz. Trong suốt thời gian giao tranh, hàng chục tàu thương mại vẫn đi qua khu vực mà không ghi nhận vụ va chạm nào liên quan đến thủy lôi. Tuy nhiên, giới chức Mỹ cho rằng không thể loại trừ nguy cơ. Hồi tháng 3, Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ thông báo đã tấn công 16 tàu chuyên rải thủy lôi của Iran gần Hormuz, song hiệu quả thực tế của chiến dịch này vẫn chưa được xác định rõ.
Tổng thống Donald Trump ngày 15/6 cho biết eo biển Hormuz đã được mở lại một phần và các lực lượng đang tiến hành hoạt động tìm kiếm những quả thủy lôi có thể còn tồn tại. Ông cũng cho biết Washington sẽ đề nghị các đồng minh châu Âu tham gia chiến dịch rà phá nhằm đẩy nhanh quá trình bảo đảm an toàn hàng hải. Trong khi đó, Anh tuyên bố có thể triển khai các thiết bị không người lái chuyên săn thủy lôi, còn Pháp khẳng định sẵn sàng điều tàu rà phá tới khu vực chỉ vài ngày sau khi một thỏa thuận hòa bình chính thức được xác nhận.
Trước khi chiến tranh bùng nổ, các cơ quan tình báo Mỹ ước tính Iran sở hữu khoảng 5.000 quả thủy lôi với nhiều chủng loại khác nhau, từ các mẫu đơn giản nổi dưới mặt nước đến những loại hiện đại đặt dưới đáy biển và được trang bị hệ thống cảm biến tinh vi để phát hiện mục tiêu.
Hải quân Mỹ triển khai công nghệ không người lái thế hệ mới
Theo truyền thông Mỹ, để đối phó với nguy cơ thủy lôi, Hải quân nước này đang chuẩn bị triển khai một hệ thống tác chiến chống thủy lôi hiện đại dựa chủ yếu vào các phương tiện không người lái. Nếu như trước đây nhiệm vụ rà phá phụ thuộc nhiều vào các tàu quét thủy lôi lớp Avenger được chế tạo bằng gỗ và sợi thủy tinh để hạn chế kích nổ mìn, thì hiện nay phần lớn số tàu này đã bị loại biên.
Thay thế chúng là các tàu tác chiến ven bờ hiện đại, hoạt động theo phương thức hoàn toàn khác. Thay vì tiến vào khu vực nguy hiểm, các tàu này sẽ đứng ngoài bãi thủy lôi và triển khai trực thăng, xuồng không người lái cùng các thiết bị lặn tự hành để thực hiện nhiệm vụ dò tìm. Tuy nhiên, theo chuyên gia Scott Savitz thuộc tổ chức RAND, chính đặc điểm này cũng tạo ra hạn chế đáng kể bởi các tàu tác chiến ven bờ không thể trực tiếp đi vào khu vực có nguy cơ gài mìn.
Trong số các thiết bị được sử dụng có xuồng không người lái Common Unmanned Surface Vehicle chuyên rà quét mặt nước và thiết bị lặn Knifefish được thiết kế để khảo sát đáy biển bằng hệ thống sonar độ chính xác cao. Hải quân Mỹ cũng vận hành nhiều phương tiện lặn tự hành có hình dạng giống ngư lôi. Các thiết bị này được lập trình sẵn lộ trình tìm kiếm, sau đó được thả xuống nước để tự động di chuyển dọc đáy biển, duy trì độ cao ổn định và liên tục phát sóng sonar nhằm thu thập dữ liệu.
Khi hoàn thành nhiệm vụ, dữ liệu được đưa vào hệ thống máy tính để ghép thành hình ảnh tổng thể của đáy biển. Các chuyên gia sẽ rà soát từng chi tiết nhằm xác định những vật thể có hình dạng hoặc tín hiệu giống thủy lôi. Nếu phát hiện mục tiêu đáng ngờ, lực lượng rà phá sẽ điều phương tiện điều khiển từ xa tới hiện trường để kiểm tra kỹ hơn trước khi quyết định vô hiệu hóa hoặc phá hủy.
Cuộc chiến dưới đáy biển đầy rủi ro
Theo các chuyên gia quân sự, thủy lôi hiện đại không còn là những khối thuốc nổ đơn giản như trong quá khứ mà đã trở thành các hệ thống vũ khí công nghệ cao rất khó phát hiện và xử lý. Một số loại có khả năng nhận biết âm thanh từ thiết bị rà phá và tự điều chỉnh vị trí nhằm tránh bị vô hiệu hóa. Những mẫu khác được trang bị bộ đếm tàu, chỉ kích nổ sau khi một số lượng tàu nhất định đi qua nhằm gây thiệt hại lớn hơn cho các đoàn vận tải hoặc lực lượng quân sự.
Việc tìm kiếm thủy lôi dưới đáy biển cũng là nhiệm vụ vô cùng phức tạp. Các hệ thống sonar phải phân biệt được đâu là thủy lôi, đâu là đá ngầm, rác thải hay những vật thể đã tồn tại hàng chục năm trên các tuyến hàng hải đông đúc. Chỉ riêng công đoạn nhận dạng mục tiêu đã đòi hỏi nhiều thời gian và nhân lực.
Trong trường hợp robot không thể hoàn thành nhiệm vụ, các chuyên gia xử lý bom mìn của Hải quân Mỹ sẽ phải trực tiếp lặn xuống đáy biển. Họ sử dụng những bộ thiết bị đặc biệt nhằm giảm tiếng ồn, hạn chế bọt khí và dấu hiệu từ trường để tránh kích hoạt thủy lôi. Với các loại thủy lôi cảm ứng sử dụng cảm biến từ trường, áp suất, địa chấn và âm thanh, mức độ nguy hiểm còn lớn hơn nhiều. Đây là trường hợp duy nhất mà thợ lặn quân sự Mỹ được huấn luyện hoạt động một mình, không dùng dây nối hay phao đánh dấu, bởi quân đội cho rằng nếu xảy ra nổ thì mất một người vẫn tốt hơn để hai người cùng gặp nguy hiểm.
Trong lúc các hoạt động rà phá được chuẩn bị, hơn 50.000 binh sĩ Mỹ cùng hai nhóm tác chiến tàu sân bay và hàng chục máy bay chiến đấu vẫn được duy trì trong trạng thái sẵn sàng tại Trung Đông. Theo các quan chức Lầu Năm Góc, Washington sẽ chưa vội rút quân cho đến khi chắc chắn rằng thỏa thuận mở lại eo biển Hormuz được thực thi ổn định và nguy cơ xung đột tái diễn đã giảm xuống mức chấp nhận được. Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth khẳng định Mỹ sẽ duy trì năng lực quân sự trong khu vực "chừng nào còn cần thiết" để bảo vệ an ninh hàng hải và bảo đảm thỏa thuận được thực hiện.