Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Đổi mới cơ chế để nhà khoa học toàn tâm nghiên cứu

Năm 2025 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, năm kết thúc nhiệm kỳ, cả nước quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm (2021–2025). Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã trả lời phỏng vấn của TTXVN về những kết quả nổi bật trong năm 2025, định hướng cho giai đoạn tới và các đề xuất chính sách nhằm phát huy vai trò của khoa học xã hội trong bối cảnh mới.

Chú thích ảnh
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Ảnh tư liệu: Thanh Hương/TTXVN

Thưa Giáo sư, với vai trò là cơ quan nghiên cứu, tham vấn các chính sách lớn cho Đảng và Nhà nước, xin Giáo sư cho biết những kết quả nổi bật trong triển khai các đề án quan trọng của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2025, đặc biệt là các đề án do Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ giao?

Năm 2025 đánh dấu chặng đường 5 năm đầy thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào của cả đất nước. Đối với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, đây là năm chúng tôi tập trung cao độ trí tuệ và tâm huyết để thực hiện “mục tiêu kép”: vừa hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ thường xuyên, vừa dồn lực cho các nhiệm vụ chính trị cấp bách phục vụ trực tiếp cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trước thềm Đại hội XIV của Đảng.

Có thể khẳng định, kết quả nổi bật nhất và mang tính chiến lược của Viện trong năm 2025 là việc hoàn thành các nhiệm vụ khoa học trọng điểm phục vụ xây dựng dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; xây dựng Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”; Đề án “Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực của cơ quan thực hiện quyền hành pháp đối với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền tư pháp”; Đề án “Tăng cường năng lực, phát triển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới”.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ, Viện Hàn lâm đã huy động đội ngũ chuyên gia đầu ngành tham gia tổng kết sâu sắc 40 năm đổi mới, cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn xác đáng nhằm làm rõ những vấn đề lý luận cốt lõi về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong bối cảnh mới. Những báo cáo kiến nghị được chắt lọc từ các đề án này đã góp phần quan trọng giúp Trung ương hoạch định đường lối phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Bên cạnh đó, các đề án do Chính phủ giao về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tháo gỡ điểm nghẽn về nguồn lực, thúc đẩy các mô hình kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đã được Viện triển khai quyết liệt và đạt chất lượng cao. Viện Hàn lâm không chỉ dừng lại ở nghiên cứu cơ bản mà đã đẩy mạnh toàn diện hoạt động tư vấn chính sách với 34 báo cáo kiến nghị, cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đặc biệt, trong năm 2025, Viện đã tạo được dấu ấn đậm nét trong tham vấn chính sách về văn hóa và con người, cụ thể hóa việc triển khai Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, coi đây là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững.

Một điểm sáng khác là sự chủ động của Viện trong tham gia giải quyết các vấn đề cấp bách của thực tiễn đời sống xã hội tại các địa phương, vùng kinh tế trọng điểm. Thông qua các chương trình hợp tác nghiên cứu, Viện đã tư vấn nhiều quy hoạch phát triển, mô hình quản trị địa phương hiệu quả, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống một cách sinh động.

Những kết quả đó là minh chứng rõ nét cho sự đổi mới mạnh mẽ trong phương thức hoạt động của Viện Hàn lâm theo hướng tinh gọn, hiệu quả và hiện đại; tạo nền tảng vững chắc để Viện bước vào năm 2026, tiếp tục xứng đáng là cơ quan nghiên cứu, tư vấn chính sách, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam vừa hoàn thành việc tinh giản biên chế, tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Bộ Chính trị và đang chuẩn bị triển khai Đề án tăng cường năng lực, phát triển Viện Hàn lâm đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Xin Giáo sư cho biết những thuận lợi, khó khăn và định hướng lớn trong quá trình triển khai?

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Bộ Chính trị, Viện Hàn lâm đã triển khai việc sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế một cách khẩn trương, nghiêm túc, đồng bộ và quyết liệt. Chỉ trong thời gian ngắn, Viện đã giảm 16 đơn vị cấp vụ, viện (khoảng 38%), 326 tổ chức cấp phòng (khoảng 69%), khắc phục cơ bản tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, qua đó giúp bộ máy tinh gọn, vận hành hiệu quả hơn.

Về số lượng viên chức, từ năm 2017 đến nay, Viện giảm gần 37%. Đây là con số rất lớn đối với một cơ quan nghiên cứu đầu ngành. Điều quan trọng là quá trình tinh giản này không làm gián đoạn hoạt động khoa học, mà ngược lại, Viện Hàn lâm đã đổi mới quản trị, phát triển đội ngũ chuyên gia, sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực con người.

Chúng tôi xác định rõ tinh gọn bộ máy là cơ hội khởi đầu cho một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi cách tiếp cận mới về đầu tư, nhân lực và nghiên cứu. Tinh gọn phải đi liền với đổi mới quản trị, đổi mới cơ chế tài chính, nâng cao hiệu quả đánh giá và chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu.

Việc xây dựng Đề án tăng cường năng lực, phát triển Viện Hàn lâm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xuất phát từ yêu cầu khách quan phải phát triển khoa học xã hội và nhăn văn của giai đoạn phát triển mới, trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số, cải cách thể chế và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là Đề án có ý nghĩa chiến lược, được giao xây dựng theo Nghị quyết số 45-NQ/TW của Trung ương và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thuận lợi lớn nhất là Đề án có nền tảng chính trị, pháp lý vững chắc, nhu cầu thực tiễn về nghiên cứu chính sách dựa trên bằng chứng ngày càng gia tăng, cùng đội ngũ cán bộ nghiên cứu giàu kinh nghiệm của Viện. Tuy nhiên, khó khăn cũng không nhỏ, nhất là hạn chế trong đầu tư cho nghiên cứu cơ bản dài hạn, sự khan hiếm nhân lực chất lượng cao, thách thức trong hiện đại hóa cơ sở vật chất và chuyển đổi số.

Do đó, Viện Hàn lâm xác định phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế đầu tư cho nghiên cứu, tổ chức lại hoạt động theo các nhóm nghiên cứu mạnh, liên ngành; đổi mới phương thức đánh giá nghiên cứu; tạo đột phá trong phát triển nhân lực; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với đổi mới mô hình quản trị nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động sáng tạo.

Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định đội ngũ trí thức, nhà khoa học là lực lượng đặc biệt quan trọng, "đội ngũ tiên phong” trong nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo. Với tư cách là người đứng đầu Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Giáo sư có những đề xuất gì để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong giai đoạn tới?

Việc dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định trí thức là “đội ngũ tiên phong” không chỉ là sự ghi nhận, tôn vinh mà còn là mệnh lệnh từ thực tiễn đối với sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng, để “đội ngũ tiên phong” này thực sự trở thành động lực bứt phá, chúng ta cần một cuộc “cách mạng” về cơ chế, chính sách chứ không chỉ dừng lại ở những ưu đãi.

Trước hết, về môi trường sáng tạo, đề xuất quan trọng là phải thực sự trao quyền tự chủ cho các đơn vị khoa học và cải cách triệt để thủ tục hành chính để các nhà khoa học tập trung vào sáng tạo. Khoa học xã hội và nhân văn có đặc thù riêng, sản phẩm là tư tưởng, là luận cứ khoa học, đòi hỏi không gian tư duy độc lập và sự cọ xát đa chiều. Do đó, tôi kiến nghị Đảng và Nhà nước cần xây dựng cơ chế khuyến khích các nhà khoa học dám đưa ra những ý tưởng mới, đột phá mang tính xây dựng. Đồng thời, cần triệt để xóa bỏ cơ chế "xin - cho" trong phân bổ đề tài, nhiệm vụ khoa học, đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán tài chính, giảm thiểu tối đa thời gian các nhà khoa học phải làm các thủ tục hành chính để họ toàn tâm toàn ý cho nghiên cứu.

Về chính sách đãi ngộ và tôn vinh, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận rằng đãi ngộ không chỉ là tiền lương, mà là sự đầu tư cho những nhà khoa học đầu ngành, nhất là ở những ngành hiếm. Cần áp dụng bảng lương chuyên biệt cho các chức danh khoa học tại các đơn vị nghiên cứu trọng điểm quốc gia như Viện Hàn lâm, tiệm cận với mức thu nhập của khu vực doanh nghiệp và quốc tế để những người trí thức, nhà khoa học yên tâm cống hiến. 

Đối với việc sử dụng chuyên gia, vấn đề không nằm ở tuổi tác mà ở trí tuệ. Với các chuyên gia cao cấp trong nước, cần thể chế hóa cơ chế kéo dài thời gian làm việc chính thức một cách linh hoạt, cho phép họ tiếp tục dẫn dắt các nhóm nghiên cứu mạnh và đào tạo thế hệ kế cận mà không bị ràng buộc cứng nhắc bởi tuổi nghỉ hưu hành chính. Đối với trí thức kiều bào, thay vì chỉ kêu gọi chung chung, chúng ta cần “đặt hàng” cụ thể các nhiệm vụ tầm quốc gia. Hãy để họ thấy rằng Việt Nam không chỉ cần danh tiếng của họ mà thực sự cần “chất xám” của họ để giải quyết các bài toán lớn trong phát triển đất nước.

Để kết quả nghiên cứu đi vào cuộc sống, tôi đề xuất thiết lập một kênh tham vấn chính sách định kỳ giữa các cơ quan nghiên cứu chiến lược như Viện Hàn lâm với các cơ quan hoạch định chính sách của Đảng và Chính phủ. Khi tri thức khoa học được tôn trọng, được lắng nghe và được chuyển hóa thành các chính sách và chiến lược quan trọng thì đó chính là sự tôn vinh và là động lực mạnh mẽ để đội ngũ trí thức khoa học xã hội dấn thân, phụng sự Tổ quốc trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trân trọng cám ơn Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi!

Lý Thanh Hương/TTXVN (Thực hiện)
Chu kỳ phát triển mới cho khoa học và công nghệ
Chu kỳ phát triển mới cho khoa học và công nghệ

Năm 2025 khép lại với những dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt đối với tiến trình phát triển của đất nước nói chung và của ngành Khoa học và Công nghệ nói riêng. Một chu kỳ phát triển mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng đã mở ra trong năm 2026.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN