Từ yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên số, vấn đề xây dựng nền khoa học cơ bản mạnh đang trở thành đòi hỏi mang tính chiến lược. Mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Nghiên cứu khoa học cơ bản không phải hoạt động học thuật thuần túy, mà là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia trong thế kỷ XXI. Đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư cho tương lai lâu dài của dân tộc, cho năng lực tự chủ quốc gia, cho chiều sâu phát triển và cho sức cạnh tranh lâu dài của đất nước.

Khoa học cơ bản là những nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy con người, tạo ra tri thức nền tảng mà chưa nhất thiết hướng ngay tới một sản phẩm thương mại cụ thể. Toán học, vật lý, hóa học, sinh học, khoa học trái đất, khoa học xã hội và nhân văn… đều là những lĩnh vực cốt lõi của khoa học cơ bản. Những tri thức được tạo ra từ các nghiên cứu này chính là “gốc rễ” để hình thành công nghệ mới, phương thức quản trị mới và những bước nhảy vọt của văn minh nhân loại.

Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, hầu hết các thành tựu công nghệ làm thay đổi thế giới ngày nay đều bắt nguồn từ những nghiên cứu khoa học cơ bản. Công nghệ bán dẫn khởi nguồn từ vật lý lượng tử; trí tuệ nhân tạo dựa trên toán học, khoa học dữ liệu và khoa học thần kinh; công nghệ gene xuất phát từ sinh học phân tử; internet bắt đầu từ những nghiên cứu nền tảng về mạng máy tính. Không có khoa học cơ bản, sẽ không có công nghệ lõi. Không có công nghệ lõi, sẽ khó có được năng lực tự chủ quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng gay gắt, việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cơ bản không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn gắn trực tiếp với an ninh, chủ quyền và vị thế quốc gia. Quốc gia nào làm chủ được tri thức nền tảng sẽ có lợi thế trong cuộc cạnh tranh về công nghệ, dữ liệu và chuỗi cung ứng chiến lược.

Trong quá khứ, Việt Nam phát triển chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ, gia công và tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Mô hình đó từng tạo ra tăng trưởng nhanh, nhưng cũng bộc lộ những giới hạn lớn khi năng suất lao động, hàm lượng công nghệ và năng lực sáng tạo nội sinh chưa cao, dẫn đến nguy cơ tụt hậu và phụ thuộc công nghệ nhập khẩu.

Buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản.

Gần đây, nhận thức về vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản đã có bước chuyển rất quan trọng. Tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (ngày 25/5/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá, nếu trước đây, khoa học cơ bản được nhìn như hoạt động học thuật chuyên sâu của các viện, trường, thì hiện nay coi đây là nền móng tri thức của quốc gia; là cơ sở hình thành công nghệ lõi, nguồn nhân lực tinh hoa, năng lực dự báo chiến lược, năng lực hoạch định chính sách và năng lực tự chủ phát triển trong dài hạn.

Đây không chỉ là sự thay đổi trong nhận thức về vị trí của khoa học cơ bản, mà còn phản ánh bước chuyển trong tư duy phát triển quốc gia, từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác nguồn lực và tiếp nhận công nghệ sang phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Hiếu, Trưởng khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng, điểm quan trọng trong chỉ đạo lần này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là đã đặt nghiên cứu khoa học cơ bản đúng vị trí chiến lược. Khoa học cơ bản không chỉ là hoạt động học thuật, mà còn là nền tảng tri thức dài hạn cho sự phát triển quốc gia. Một đất nước muốn phát triển nhanh, bền vững và tự chủ không thể chỉ dựa vào tài nguyên thô, lao động giá rẻ, gia công hay tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài. Muốn có công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và năng lực cạnh tranh thực chất, trước hết phải có nền khoa học cơ bản đủ mạnh.

Như trong lĩnh vực địa chất, khoáng sản và môi trường, nếu thiếu nghiên cứu cơ bản về địa chất, địa hóa, khoáng vật học, địa vật lý, viễn thám, công nghệ tuyển - luyện và môi trường mỏ, tài nguyên, thì chỉ có thể dừng lại ở tiềm năng hoặc bị khai thác với giá trị thấp. Ngược lại, khoa học cơ bản mạnh giúp nhận diện khoáng sản một cách có chiến lược, hiểu quy luật thành tạo, phân bố, tích tụ, từ đó chủ động tìm kiếm, khai thác, chế biến sâu và sử dụng hiệu quả hơn. Đây là bước chuyển từ “có tài nguyên” sang “làm chủ tri thức về tài nguyên”, góp phần bảo đảm an ninh tài nguyên, an ninh năng lượng và nâng cao vị thế quốc gia.

Các nhà khoa học của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) phối hợp với Viện Vật lý địa cầu Ba Lan (Viện Hàn lâm Khoa học Ba Lan) xây dựng thành công hệ thống giám sát định kỳ, tự động chất lượng nước biển - nước lợ tại Vịnh Hạ Long và Cửa Lục.

Điểm đáng chú ý nữa là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu cần nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò chiến lược của khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện nay. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ: Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia, thì khoa học xã hội và nhân văn tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và giữ vững ổn định xã hội.

Một quốc gia có thể nhập khẩu công nghệ, nhưng không thể nhập khẩu mô hình phát triển phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện của chính mình. Do đó, khoa học xã hội và nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu lý luận, xây dựng đường lối, hoàn thiện pháp luật, dự báo chiến lược, xây dựng hệ giá trị quốc gia, phát triển văn hóa và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đây là quan điểm rất toàn diện và sâu sắc. Một nền khoa học mạnh không chỉ tạo ra công nghệ, mà còn phải góp phần tạo dựng nền tảng tinh thần, văn hóa và thể chế cho sự phát triển bền vững. Đó là lý do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định không thể phát triển nhanh và bền vững nếu chỉ mạnh về công nghệ mà yếu về thể chế, văn hóa, con người và năng lực quản trị xã hội.

Lễ khai giảng tại Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) - Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam. 

Dù đạt được nhiều kết quả, khoa học cơ bản ở Việt Nam hiện vẫn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ nhiều hạn chế, bất cập: đầu tư còn thấp; hoạt động nghiên cứu phân tán; thiếu liên kết; chưa hình thành hệ sinh thái nghiên cứu mạnh; thiếu các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, phòng thí nghiệm hiện đại và cơ sở dữ liệu lớn.

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là cơ chế quản lý khoa học còn nặng tính hành chính. Không ít nhà khoa học phải dành quá nhiều thời gian cho thủ tục tài chính, hồ sơ, thanh quyết toán, thay vì tập trung cho nghiên cứu chuyên môn. Trong khi đó, khoa học vốn là lĩnh vực đòi hỏi tính sáng tạo, linh hoạt và chấp nhận rủi ro.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học cơ bản không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn gắn trực tiếp với an ninh, chủ quyền và vị thế quốc gia.

Thực tế cho thấy, nhiều đề tài nghiên cứu ở Việt Nam vẫn mang tâm lý “an toàn”, thiếu tính đột phá do e ngại trách nhiệm nếu thất bại. Điều này khiến môi trường khoa học khó hình thành những nghiên cứu tiên phong có khả năng tạo bước nhảy vọt về công nghệ.

Bởi vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý khoa học theo hướng chuyển từ “quản lý hành chính” sang “quản trị sáng tạo”, từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Đây được xem là giải pháp mang tính đột phá, không chỉ là thay đổi thủ tục quản lý, mà sâu xa hơn là thay đổi tư duy đối với hoạt động khoa học. Một nền khoa học hiện đại phải tạo môi trường học thuật trung thực, tự do sáng tạo, tôn trọng khác biệt học thuật và chấp nhận rủi ro khoa học. Nhà khoa học phải được đánh giá bằng chất lượng nghiên cứu, tác động khoa học và đóng góp dài hạn, chứ không chỉ bằng hồ sơ, thủ tục hay số lượng đề tài.

Công ty CP Thiết bị và Giải pháp Cơ khí Automech là nhà cung cấp hàng đầu các giải pháp tự động hóa và thiết bị gia công cơ khí chính xác tại Việt Nam.

Cùng với đổi mới quản trị là yêu cầu đổi mới cơ chế đầu tư cho khoa học cơ bản. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh cần có ngân sách nền ổn định và cơ chế tài trợ dài hạn đối với nghiên cứu cơ bản định hướng tri thức nền; đồng thời kết hợp ngân sách Nhà nước với quỹ cạnh tranh, đặt hàng quốc gia và hợp tác doanh nghiệp đối với nghiên cứu phục vụ công nghệ chiến lược. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định bởi khoa học cơ bản không thể phát triển bằng tư duy đầu tư ngắn hạn. Nhiều công trình khoa học lớn trên thế giới phải mất hàng chục năm mới tạo ra thành quả. Nếu chỉ chạy theo hiệu quả tức thời hoặc sản phẩm thương mại trước mắt, rất khó hình thành các nghiên cứu nền tảng có khả năng tạo đột phá.

Một điểm nghẽn khác được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề cập đến là vấn đề nhân lực khoa học. Hiện nay, đội ngũ chuyên gia đầu ngành ở nhiều lĩnh vực còn mỏng; thiếu lực lượng kế cận; tình trạng chảy máu chất xám vẫn diễn ra. Nhiều nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài gặp khó khăn khi trở về nước do chênh lệch về môi trường nghiên cứu, cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ.

Muốn có nền khoa học mạnh thì trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học mạnh. Vì vậy, yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về xây dựng hệ sinh thái phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài khoa học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc xây dựng Chương trình quốc gia về nhân tài khoa học cơ bản, tạo môi trường học thuật tự do, trung thực, sáng tạo, có đãi ngộ xứng đáng và trao cơ hội cho người tài - chính là điều kiện để hình thành đội ngũ trí thức khoa học đủ sức gánh vác những nhiệm vụ lớn của đất nước.

TS. Đỗ Nguyên Hưng, Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam (thành viên thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam).

Từ thực tế ngành tự động hóa Việt Nam, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam (thành viên thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) chỉ ra những hạn chế cố hữu như: Thiếu các nhóm nghiên cứu mạnh, thiếu hạ tầng dùng chung và dữ liệu lớn. Đây chính là những "điểm nghẽn" rõ ràng nhất làm chậm tiến trình làm chủ công nghệ. Theo Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, nghiên cứu tự động hóa muốn đi đến công nghệ lõi đòi hỏi một hệ sinh thái rất lớn gồm phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm thử nghiệm, môi trường mô phỏng số và sự kết nối hữu cơ giữa Viện - Trường - Doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn lực hiện nay của nước ta còn phân tán, các nhóm nghiên cứu mạnh hoạt động riêng lẻ, thiếu cơ chế phối hợp dài hạn và thiếu các dự án tầm cỡ quốc gia để tích tụ năng lực công nghệ. Do đại đa số doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, khả năng đầu tư cho R&D (nghiên cứu và phát triển) còn hạn chế; trong khi doanh nghiệp FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) thường mang theo công nghệ sẵn có. Hệ quả là phần lớn các hệ thống cốt lõi trong nhà máy hiện nay như hệ điều khiển DCS, robot công nghiệp, nền tảng SCADA… đều phụ thuộc vào các tập đoàn nước ngoài, khiến chi phí nâng cấp cao và tính tự chủ công nghệ thấp.

Công ty CP Thiết bị và Giải pháp Cơ khí Automech là nhà cung cấp hàng đầu các giải pháp tự động hóa và thiết bị gia công cơ khí chính xác tại Việt Nam.

Tương tự như vậy, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm về Địa môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã chỉ ra 3 "điểm nghẽn" lớn hiện nay của nghiên cứu cơ bản liên quan đến lĩnh vực này. Đó là các nghiên cứu về Trái đất và biến đổi khí hậu cần đến hàng thập kỷ để tích lũy dữ liệu nhưng hiện nay ngành lại thiếu nguồn kinh phí ổn định, dài hạn và đủ lớn. Mặt khác, cách quản lý hiện hành vẫn nặng tính thủ tục giấy tờ, chưa chấp nhận thực tế là nghiên cứu khoa học luôn có xác suất thất bại. Điều này khiến các nhà khoa học e ngại, không dám thử nghiệm những ý tưởng mới mẻ, mang tính đột phá. Mặt khác, hợp tác ba nhà giữa Nhà nước - Viện/trường - Doanh nghiệp hiện vẫn còn lỏng lẻo. Trong khi các nhà khoa học ưu tiên sự chuẩn xác, hoàn hảo thì doanh nghiệp lại cần sản phẩm có giá thành rẻ, mang lại hiệu quả và ứng dụng được ngay. Điều này khiến nhiều kết quả nghiên cứu đành "đắp chiếu" trong phòng thí nghiệm. Bên cạnh đó, các trường đại học công lập đang gặp rào cản lớn về thủ tục khi muốn dùng tài sản trí tuệ hoặc máy móc được nhà nước đầu tư để góp vốn thành lập các công ty khởi nghiệp công nghệ. Việc thiếu cơ chế thông thoáng này đã làm chùn bước các nhà khoa học trong việc đưa tri thức từ trang giấy ra phục vụ cuộc sống.

Việt Nam đang đặt mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, nền kinh tế phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những lĩnh vực được xem là động lực của tương lai như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ lượng tử, robot, năng lượng mới hay công nghệ sinh học đều đòi hỏi nền tảng khoa học cơ bản rất mạnh. Không có nền tảng ấy, Việt Nam sẽ khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu và càng khó làm chủ công nghệ chiến lược.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, không quốc gia nào trở thành cường quốc khoa học - công nghệ nếu thiếu đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản. Các nước phát triển đều coi khoa học cơ bản là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời là “vườn ươm” cho nhân tài và công nghệ tương lai.

Ngày hội STEM 2026 của Trường Đại học Nha Trang với chủ đề “Sáng tạo - Kết nối - Dẫn lối tương lai.

Với Việt Nam, đầu tư cho khoa học cơ bản càng có ý nghĩa chiến lược khi thế giới đang bước vào thời kỳ cạnh tranh quyết liệt về công nghệ, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Trong bối cảnh đó, năng lực tự chủ khoa học - công nghệ không chỉ là vấn đề phát triển kinh tế mà còn gắn trực tiếp với độc lập, tự chủ và an ninh quốc gia.

Điều đáng chú ý là yêu cầu phát triển khoa học cơ bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không dừng ở định hướng mà đã gắn với những nhiệm vụ rất cụ thể: xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045; xây dựng Quỹ nghiên cứu cơ bản quốc gia đa niên; xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học và dữ liệu xã hội quốc gia; tái cấu trúc các viện hàn lâm; xây dựng chuẩn liêm chính khoa học quốc gia…

Những định hướng đó cho thấy quyết tâm hình thành hệ sinh thái nghiên cứu cơ bản hiện đại, có chiều sâu và có khả năng cạnh tranh trong khu vực, tiến tới từng bước hình thành một số lĩnh vực khoa học cơ bản đạt trình độ quốc tế.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trung Hiếu, Trưởng khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh nêu rõ, nghiên cứu khoa học cơ bản nói chung, thời gian tới cần được định hướng theo ba trục lớn: tạo lập tri thức nền tảng, phục vụ các bài toán chiến lược quốc gia, hình thành năng lực công nghệ lõi và đội ngũ nhân lực tinh hoa. Không nên xem khoa học cơ bản là xa rời thực tiễn, nhưng cũng không nên ép khoa học cơ bản phải tạo ra sản phẩm thương mại nhanh chóng trong giới hạn thời gian quá ngắn. Lĩnh vực này cần được đầu tư dài hạn, có cơ chế tài trợ ổn định, nhóm nghiên cứu mạnh và môi trường học thuật trung thực, sáng tạo.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi với phóng viên TTXVN

Theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, việc hiện thực hóa định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về từng bước xây dựng một số trung tâm nghiên cứu xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh, cơ sở dữ liệu khoa học lớn và hạ tầng nghiên cứu dùng chung có năng lực cạnh tranh trong khu vực, trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, có ý nghĩa rất quan trọng. Đồng thời, định hướng phải hình thành được cơ chế tài chính đặc thù cho nghiên cứu cơ bản theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước là rất phù hợp. Đây không chỉ là vấn đề đầu tư cơ sở vật chất, mà còn là cách tạo ra môi trường nghiên cứu chuyên nghiệp, nơi các nhà khoa học có thể làm việc lâu dài, tích lũy tri thức, chia sẻ dữ liệu, sử dụng chung hạ tầng hiện đại và cùng tham gia giải quyết những bài toán khoa học lớn.

Cũng theo Tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, bên cạnh hạ tầng, con người vẫn là yếu tố quyết định. Việt Nam cần tiếp tục thu hút người tài, đặc biệt là ưu tiên các học sinh, sinh viên xuất sắc và các nhà khoa học từ nước ngoài về Việt Nam thông qua các chính sách ưu đãi đặc thù. Hiện nay, một số chính sách mới cho các ngành khoa học cơ bản đã được triển khai, với kỳ vọng sẽ tác động rõ hơn đến công tác tuyển sinh, đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lược cao cho ngành này.

Nhiều học sinh phổ thông hiện nay đang bắt đầu định hình nghề nghiệp từ chính những lần làm mô hình, thử nghiệm sản phẩm và tham gia các dự án STEM.

Khi những điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực và môi trường học thuật được tháo gỡ; khi nhà khoa học thực sự được tin tưởng, trọng dụng và trao điều kiện để sáng tạo; khi khoa học cơ bản được đặt đúng vị trí là nền tảng chiến lược của phát triển quốc gia, Việt Nam sẽ có điều kiện tạo ra những công nghệ lõi mang dấu ấn Việt Nam, hình thành đội ngũ trí thức lớn mạnh và xây dựng nền tảng vững chắc cho khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường trong kỷ nguyên mới.

VIDEO: Xây dựng nền nghiên cứu khoa học cơ bản Việt Nam hiện đại, tự chủ:

***
Bài: Minh Duyên - Diệu Thúy - Thu Hoài
Ảnh, đồ họa, video: TTXVN - TTXVN phát
Biên tập: Kỳ Thư
Trình bày: Phùng Sắc

06/06/2026 05:55