Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Chính phủ ban hành Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, có hiệu lực từ ngày 9/2/2026.
Nghị định quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, việc thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Đối với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh vàng, Nghị định quy định phạt cảnh cáo đối với hành vi mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng; sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.
Các hành vi trên nếu tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần thì bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng. Mức phạt này cũng áp dụng đối với hành vi: Không thực hiện thanh toán mua, bán vàng qua tài khoản thanh toán theo quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 30-50 triệu đồng đối với các hành vi: Không niêm yết công khai giá mua, giá bán vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ; sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ mà không công bố tiêu chuẩn áp dụng, không ghi nhãn hàng hóa; sản xuất vàng miếng mà không công bố tiêu chuẩn áp dụng, khối lượng, hàm lượng của sản phẩm, không ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Nghị định quy định phạt cảnh cáo đối với hành vi: Mua, bán ngoại tệ giữa cá nhân với nhau, mua, bán ngoại tệ tại tổ chức không được phép thu đổi ngoại tệ mà ngoại tệ mua, bán có giá trị dưới 1.000 đôla Mỹ.
Cùng hành vi trên mà ngoại tệ mua, bán có giá trị từ 1.000 đến dưới 10.000 đôla Mỹ thì bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng; giá trị từ 10.000 đến dưới 100.000 đôla Mỹ thì bị phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng; giá trị từ 100.000 đôla Mỹ trở lên thì bị phạt tiền từ 80 - 100 triệu đồng.
Quy định mới về hoạt động quảng cáo trên mạng
Chính phủ ban hành Nghị định số 342/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến hoạt động quảng cáo trên mạng.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/2/2026. Nghị định gồm 5 chương 32 điều quy định về danh mục và yêu cầu đối với nội dung quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt; quảng cáo trên kênh chương trình chuyên quảng cáo; hoạt động quảng cáo trên mạng; quảng cáo trên màn hình chuyên quảng cáo có kết nối mạng; quảng cáo thương hiệu quốc gia trên đài truyền thanh cấp xã; quảng cáo trong nội dung phim; văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam; trách nhiệm quản lý nhà nước.
Một trong những điểm đáng chú ý là Nghị định quy định khá chặt chẽ về hoạt động quảng cáo trên mạng không ở vùng cố định.
Quảng cáo không ở vùng cố định là quảng cáo hiển thị tại vị trí, thời điểm không cố định trên giao diện dịch vụ trực tuyến, che khuất toàn bộ hoặc một phần nội dung chính và làm gián đoạn việc tiếp cận thông tin của người sử dụng.
Điều 17 của Nghị định quy định tính năng, biểu tượng để tắt quảng cáo phải bảo đảm việc quảng cáo được tắt chỉ với một lần tương tác; không có biểu tượng tắt quảng cáo giả hoặc biểu tượng tắt quảng cáo khó phân biệt, khó xác định.
Không có thời gian chờ tắt quảng cáo đối với quảng cáo dưới dạng hình ảnh tĩnh; thời gian chờ tắt quảng cáo tối đa là 5 giây đối với quảng cáo dưới dạng chuỗi hình ảnh chuyển động, video.
Ngoài ra, phải bố trí biểu tượng và hướng dẫn quy trình để người sử dụng thông báo nội dung quảng cáo vi phạm pháp luật và lựa chọn từ chối, tắt hoặc không tiếp tục xem quảng cáo không phù hợp. Báo cáo quảng cáo vi phạm pháp luật phải được tiếp nhận, xử lý kịp thời và thông tin kết quả cho người sử dụng theo quy định của pháp luật.
Điều 18 của Nghị định phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong ngăn chặn, gỡ bỏ quảng cáo vi phạm trên mạng.
Quy định xử phạt hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan
Nghị định số 341/2025/NĐ-CP quy định rõ những hành vi bị xử phạt hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan. Nghị định gồm 4 chương, 65 điều quy định về các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả; thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả về quyền tác giả, quyền liên quan.
Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền.
Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh tang vật vi phạm; tước quyền sử dụng Thẻ giám định viên quyền tác giả, quyền liên quan hoặc Giấy chứng nhận tổ chức giám định quyền tác giả, quyền liên quan từ 1 tháng đến 3 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành.
Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan đối với cá nhân là 250 triệu đồng. Mức phạt tiền tối đa đối với tổ chức là 500 triệu đồng.
Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức gấp 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Hộ kinh doanh, hộ gia đình, cộng đồng dân cư vi phạm hành chính bị áp dụng mức phạt tiền như đối với cá nhân vi phạm hành chính.
Nghị định quy định chi tiết việc xử phạt đối với 35 hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 15/2/2026.
Chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu
Chính phủ ban hành Nghị định số 349/2025/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu.
Đối tượng áp dụng của nghị định là thành viên đội thể thao gồm: Huấn luyện viên, vận động viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia; đội tuyển, đội tuyển trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước; huấn luyện viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia, đội tuyển, đội tuyên trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước; vận động viên đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia, đội tuyển ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước; vận động viên đội tuyển trẻ, đội tuyển năng khiếu ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không hưởng lương từ ngân sách nhà nước; nhân viên y tế (bác sỹ, kỹ thuật y) đội tuyển, đội tuyển trẻ quốc gia hưởng lương hoặc không hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Đối tượng áp dụng của nghị định còn là cơ quan, tổ chức trực tiếp sử dụng huấn luyện viên, vận động viên, nhân viên y tế làm việc hoặc luyện tập, thi đấu thường xuyên trước khi được triệu tập tập huấn, thi đấu (gọi là cơ quan quản lý); cơ quan, tổ chức trực tiếp sử dụng huấn luyện viên, vận động viên, nhân viên y tế sau khi được triệu tập tập huấn, thi đấu (gọi là cơ quan sử dụng); cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện các quy định tại Nghị định này.
Nghị định quy định cụ thể các chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu bao gồm: Chính sách tiền lương, chế độ dinh dưỡng; chế độ đãi ngộ đặc thù và chăm sóc sức khỏe; chính sách đào tạo văn hóa, giải quyết việc làm; chế độ bảo hiểm; chế độ tiền thưởng.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ 15/2/2026.