Ngành dệt may vẫn loay hoay bài toán tự chủ khâu dệt – nhuộm

Dù liên tục duy trì vị thế nhóm đầu thế giới về xuất khẩu, nhưng khả năng tự chủ ở các khâu then chốt như dệt, nhuộm và hoàn tất của ngành dệt may Việt Nam vẫn chưa theo kịp yêu cầu hội nhập sâu rộng.

Chú thích ảnh
Sản xuất hàng may mặc tại Xí nghiệp Sơ mi, Veston của Tổng Công ty May 10 tại Sài Đồng, Quận Long Biên, Hà Nội. Ảnh tư liệu: Anh Tuấn/TTXVN

Thực tế cho thấy, nhuộm gia công đang là điểm nghẽn lớn nhất, kéo lùi giá trị gia tăng của chuỗi sản xuất. Nếu không thể tháo gỡ nút thắt này, dệt may Việt Nam sẽ khó có thể tiến lên những nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. 

Theo ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong 4 tháng đầu năm 2026, ngành dệt may Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định bất chấp những biến động từ thị trường thế giới, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt 11,96 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ, với sản phẩm hiện diện tại hơn 130 thị trường; trong đó, Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất khi chiếm xấp xỉ 40% tổng kim ngạch, theo sau là các đối tác lớn như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.

Tuy nhiên, đây đều là những thị trường đang đặt ra các tiêu chuẩn khắt khe về phát triển bền vững, môi trường và đặc biệt là truy xuất nguồn gốc. Quy mô xuất khẩu dù tăng mạnh nhưng phần giá trị gia tăng nội địa lại chưa tương xứng khi mỗi năm ngành vẫn phải nhập khẩu khoảng 17 tỷ USD nguyên phụ liệu. Với tỷ lệ nội địa hóa mới chỉ đạt hơn 50%, một nửa chuỗi giá trị vẫn đang phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung bên ngoài.

Đồng quan điểm, bà Trần Thu Hương, đại diện Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương biết, khâu nhuộm và hoàn tất đòi hỏi công nghệ hiện đại, hệ thống xử lý chất thải đồng bộ, vốn đầu tư cực lớn và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, một "nút thắt" mang tính tâm lý và quản lý là sự e ngại của các địa phương. Nhiều nơi vẫn còn quan ngại về vấn đề ô nhiễm môi trường khi nhắc đến dệt nhuộm, dẫn đến việc hạn chế cấp phép cho các dự án này.

Bên cạnh đó, quỹ đất dành cho dệt nhuộm hiện nay rất thiếu tập trung. Trong khi miền Bắc chỉ có một vài khu vực, miền Nam tập trung tại Long An, Tây Ninh, thì miền Trung hầu như không còn quỹ đất để đầu tư vào phân khúc này. Sự thiếu hụt về hạ tầng chuyên dụng và cơ chế chính sách chưa đủ mạnh đã khiến các nhà đầu tư dệt nhuộm lớn vẫn còn đắn đo khi rót vốn vào Việt Nam.

Theo bà Trần Thu Hương, sự phụ thuộc này đang trực tiếp đẩy các doanh nghiệp vào thế khó khi thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Các quy tắc xuất xứ chặt chẽ như "từ sợi trở đi" hoặc "từ vải trở đi" đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động được nguồn vải đạt chuẩn, nếu không cơ hội tận dụng ưu đãi thuế quan sẽ bị thu hẹp đáng kể. Trong bối cảnh mới, lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam không còn nằm ở quy mô sản xuất hay tay nghề nhân công, mà chuyển dịch sang khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh và sự hoàn thiện của chuỗi cung ứng nội địa. 

Để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, việc đầu tư bài bản vào khâu dệt - nhuộm - hoàn tất được xác định là vấn đề chiến lược thay vì chỉ là bài toán kỹ thuật đơn thuần. Thực tế, thách thức này hoàn toàn có lời giải nếu nhìn vào sự phát triển của công nghệ xử lý nước thải hiện đại hiện nay. Việc phát triển các phân khúc thượng nguồn không chỉ giúp đáp ứng quy tắc xuất xứ mà còn là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp thâm nhập bền vững vào những thị trường cao cấp. 

Tại một số khu vực trọng điểm như Ninh Bình, hạ tầng giao thông và quỹ đất công nghiệp đang được tái cấu trúc để ưu tiên các dự án công nghệ cao. Điển hình là mô hình khu công nghiệp chuyên biệt đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải công suất lớn lên tới 110.000 m3/ngày đêm, vận hành theo chuẩn quốc tế thu hút các dự án dệt nhuộm quy mô lớn như: dự án Công ty TNHH Top Textiles, sản xuất các sản phẩm sợi vải của Tập đoàn Toray (Nhật Bản), với diện tích 31,2ha; tổng mức đầu tư 203 triệu USD; tổng công suất dự kiến của toàn bộ dự án đạt 120 triệu mét vải/năm; dự kiến tạo việc làm cho hơn 3.000 lao động.

Dự án Yi Da Denim Mill (VN) Co., LTD, của Tập đoàn Crystal, Hồng Kông (Trung Quốc), tổng vốn đầu tư 60 triệu USD, với diện tích trên 24,1ha; dự kiến công suất mỗi năm của dự án đạt 55 triệu m² vải có nhuộm, 5 triệu m² vải không nhuộm và 20 triệu sản phẩm quần áo… (dự kiến dự án sẽ mở rộng lên đến 200 triệu USD).

Dự án nhà máy nhuộm không nước Jehong Textile Enunic (Đài Loan), tập trung vào lĩnh vực nhuộm vải hoàn tất và sản xuất vải dệt thoi; tổng vốn đầu tư hơn 6 triệu USD, với diện tích 3,06ha; dự kiến công suất trung bình 16,5 triệu m/năm, trong đó nhuộm vải cotton công suất 9,9 triệu m/năm và nhuộm vải polyester công suất 6,6 triệu m/năm, tạo việc làm cho hơn 320 lao động. Dự án Sanbang Pte. Ltd (Singapore), sản xuất các loại khăn, vải dệt, sợi DTY, tổng vốn đầu tư gần 30 triệu USD; với diện tích trên 10,3ha; công suất dự kiến mỗi năm đạt 15 nghìn tấn khăn, 14 triệu mét vải dệt, 15 nghìn tấn sợi DTY.

Những giải pháp hạ tầng chuyên sâu này đang tạo ra sự cân bằng cần thiết giữa phát triển công nghiệp và bảo vệ môi trường, giúp các nhà đầu tư yên tâm đánh giá môi trường kinh doanh dài hạn và thúc đẩy ngành dệt may chuyển mình mạnh mẽ.

Hằng Trần  (TTXVN)
Dệt may Việt Nam hướng đến tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị
Dệt may Việt Nam hướng đến tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị

Ngành thời trang toàn cầu đang chịu sức ép lớn phải chuyển đổi mô hình nhằm giảm tác động môi trường và xã hội. Trong bối cảnh đó, dệt may Việt Nam – một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng - đang đứng trước cơ hội vượt khỏi vai trò gia công truyền thống để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, đồng thời định hình hướng phát triển bền vững từ gốc rễ.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN