TP Hồ Chí Minh đề xuất gỡ điểm nghẽn thương mại hóa nghiên cứu

Dù tạo ra nhiều kết quả nghiên cứu và sáng chế, việc đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường vẫn gặp nhiều rào cản về vốn, sở hữu trí tuệ, kiểm chứng công nghệ và khả năng tiếp cận khách hàng. TP Hồ Chí Minh đang đề xuất một số cơ chế hỗ trợ nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn này.

Chú thích ảnh
Đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường còn phải vượt qua nhiều khâu về hoàn thiện công nghệ, sở hữu trí tuệ, thử nghiệm, vốn và thị trường.

Chặng đường nhiều rủi ro sau một sáng chế

Trong quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ, tạo ra sản phẩm hoặc giải pháp mới mới chỉ là bước đầu. Để kết quả nghiên cứu đến được thị trường, còn phải vượt qua nhiều khâu từ hoàn thiện công nghệ, sản xuất thử nghiệm, tiêu chuẩn, sở hữu trí tuệ đến vốn và tìm kiếm khách hàng. Khoảng cách này thường được giới chuyên môn gọi là “thung lũng chết”.

Câu chuyện của Công ty TNHH SiGen phần nào cho thấy những khoản chi phí phát sinh sau khi một giải pháp kỹ thuật được hình thành. Theo ông Hồ Viết Vẻ, Tổng Giám đốc Công ty, doanh nghiệp từng chi hơn 600 triệu đồng để thử nghiệm chuyển một chi tiết từ vật liệu kim loại sang nhựa. Khi sản phẩm cơ bản hoàn thiện, SiGen tiếp tục tổ chức 15 hội thảo khoa học tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng và một số địa phương, với tổng chi phí hơn 1,5 tỷ đồng.

Khoản đầu tư lớn chưa bảo đảm sản phẩm lập tức được khách hàng đón nhận. Doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục chứng minh hiệu quả, điều chỉnh sản phẩm theo nhu cầu sử dụng và tìm kiếm đơn vị sẵn sàng triển khai. Đây là giai đoạn nhiều doanh nghiệp công nghệ gặp khó, bởi nguồn lực đã dành đáng kể cho nghiên cứu nhưng doanh thu từ sản phẩm chưa hình thành.

Ngay cả quyền sở hữu trí tuệ - công cụ giúp bảo vệ thành quả nghiên cứu - cũng kéo theo chi phí duy trì. Theo ông Hồ Viết Vẻ, với cá nhân, nhóm nghiên cứu hoặc doanh nghiệp sở hữu nhiều bằng sáng chế nhưng chưa thương mại hóa được sản phẩm, khoản phí duy trì hiệu lực hằng năm có thể trở thành gánh nặng. Chủ sở hữu khi đó phải lựa chọn giữa tiếp tục bảo vệ sáng chế hoặc từ bỏ quyền do chưa nhìn thấy khả năng khai thác trên thị trường.

Chú thích ảnh
Bà Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phó trưởng phòng Phòng Quản lý SHTT và ĐMST (Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh), phát biểu tại hội nghị gần đây.

Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Phó Trưởng phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ và Đổi mới sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ TP Hồ Chí Minh (SHTT và ĐMST - Sở KH&CN), số lượng tài sản trí tuệ được xác lập quyền đang tăng nhưng khả năng khai thác giá trị kinh tế chưa theo kịp. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa mới chú ý đến đăng ký bảo hộ, chưa xây dựng được hệ thống quản trị tài sản trí tuệ để phục vụ định giá, góp vốn, chuyển giao hoặc huy động nguồn lực.

Vì vậy, khoảng trống không chỉ nằm ở việc thiếu vốn. Một sáng chế muốn trở thành sản phẩm thương mại còn cần được định giá, xác định quyền sở hữu, lựa chọn phương thức bảo vệ và đặt trong một kế hoạch kinh doanh khả thi.

Ông Nguyễn Hồng Hiếu, Giám đốc Công ty Cổ phần Monday Vietnam, cho rằng định giá tài sản trí tuệ là khâu cần được quan tâm khi kết quả nghiên cứu bắt đầu tiếp cận nhà đầu tư. Nếu không có căn cứ xác định giá trị của công nghệ, phần mềm hoặc giải pháp, các bên sẽ khó thống nhất tỷ lệ góp vốn, điều kiện chuyển giao và quyền lợi trong quá trình hợp tác.

Vấn đề càng phức tạp hơn với các sản phẩm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI). Việc sử dụng dữ liệu, phần mềm hoặc mã nguồn của bên thứ ba nhưng không làm rõ quyền sử dụng ngay từ đầu có thể phát sinh tranh chấp khi sản phẩm được đưa ra thị trường.

Bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng phòng Phát triển Khoa học Công nghệ, Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh, nhìn nhận mỗi công đoạn trong quá trình thương mại hóa đều có thể trở thành điểm nghẽn. Nếu nhóm nghiên cứu chỉ tập trung hoàn thành đề tài mà chưa chuẩn bị cho việc kiểm định, sản xuất và tiếp cận khách hàng, sản phẩm dễ dừng lại ở nguyên mẫu dù có giá trị về chuyên môn.

Theo PGS. Tiến sĩ Huỳnh Thanh Công, Phó Trưởng ban KH&CN, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, nhu cầu thị trường cần được tính đến ngay từ khi lựa chọn hướng nghiên cứu, thay vì đợi sản phẩm hoàn thiện mới bắt đầu tìm kiếm đầu ra.

Kinh nghiệm tại một số trường đại học trên thế giới cho thấy, thương mại hóa công nghệ đòi hỏi cả một hệ thống hỗ trợ: Đánh giá khả năng khai thác tài sản trí tuệ, cấp kinh phí kiểm chứng công nghệ, kết nối nhà đầu tư và tìm kiếm doanh nghiệp có năng lực đưa sản phẩm vào sản xuất. Khi những yếu tố này được chuẩn bị sớm, nguồn lực nghiên cứu sẽ bám sát hơn nhu cầu thực tế và giảm nguy cơ sản phẩm bị bỏ lại sau quá trình nghiệm thu.

Chú thích ảnh
Sở hữu trí tuệ là một trong những tài sản cần được khai thác và quản trị trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Đề xuất hỗ trợ ở những khâu khó thương mại hóa

Từ bhững khó khăn trên,TP Hồ Chí Minh đang xem xét và xây dựng dự thảo nghị quyết quy định một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Điểm mới trong cách tiếp cận của dự thảo là chính sách không dừng ở hỗ trợ nghiên cứu hoặc đăng ký bảo hộ. Nguồn lực dự kiến được mở rộng sang những công đoạn sát với thị trường hơn, như sản xuất thử nghiệm, quản trị tài sản trí tuệ, chuẩn bị dữ liệu và giới thiệu công nghệ đến doanh nghiệp.

Một trong những đề xuất đáng chú ý là hỗ trợ sản xuất thử nghiệm ban đầu, thường được gọi là “lô sản phẩm số 0”, với mức tối đa 50% chi phí nhưng không quá 500 triệu đồng.

Đây là bước chuyển từ nguyên mẫu sang một lô sản phẩm có số lượng nhất định để doanh nghiệp đánh giá khả năng vận hành, kiểm tra chất lượng và ghi nhận phản hồi của khách hàng. Do chưa sản xuất ở quy mô lớn, chi phí cho mỗi sản phẩm trong giai đoạn này thường cao hơn nhiều so với giá thành dự kiến khi sản xuất hàng loạt.

Ông Hồ Viết Vẻ dẫn chứng, một sản phẩm có giá thành khoảng 1.000 đồng khi sản xuất số lượng lớn có thể tăng giá nhiều lần nếu chỉ làm một lô nhỏ. Chi phí nhân công kỹ thuật, chuẩn bị khuôn mẫu, vật liệu và tổ chức dây chuyền phải phân bổ trên số lượng ít, khiến nhiều doanh nghiệp không đủ khả năng thử nghiệm trước khi quyết định đầu tư quy mô lớn.

Việc hỗ trợ “lô sản phẩm số 0”, nếu được triển khai đúng đối tượng, có thể giúp doanh nghiệp vượt qua bước thử nghiệm tốn kém nhất, đồng thời cung cấp dữ liệu thực tế để nhà đầu tư đánh giá khả năng phát triển của công nghệ.

Chú thích ảnh
TP Hồ Chí Minh dự kiến hỗ trợ 100% chi phí thuê gian hàng xúc tiến thương mại tại các sự kiện Techmart, Cà phê công nghệ do Thành phố tổ chức nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ.

Với sở hữu trí tuệ, dự thảo chuyển trọng tâm từ “có văn bằng bảo hộ” sang “khai thác được tài sản”. Theo ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở KH&CN TP Hồ Chí Minh, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp có thể được hỗ trợ tối đa 200 triệu đồng để xây dựng hệ thống quản trị tài sản trí tuệ nội bộ gắn với khai thác thương mại và quản trị rủi ro.

Sự thay đổi này phù hợp với những vấn đề doanh nghiệp đang gặp phải. Nếu tài sản trí tuệ không được phân loại, định giá và xác định rõ phương án sử dụng, văn bằng bảo hộ khó trở thành cơ sở cho hoạt động góp vốn, chuyển giao hay kêu gọi đầu tư.

Dự thảo cũng dành một phần chính sách cho dữ liệu phục vụ phát triển AI. Theo phương án đang được lấy ý kiến, dự án làm sạch, gán nhãn dữ liệu có thể được hỗ trợ tối đa 50% chi phí, không quá 200 triệu đồng. Đơn vị nhận hỗ trợ phải chia sẻ một phần tập dữ liệu lên Cổng dữ liệu mở của Thành phố theo quy định.

Cùng với hỗ trợ sản xuất và quản trị tài sản trí tuệ, Thành phố dự kiến hỗ trợ toàn bộ chi phí thuê gian hàng xúc tiến thương mại tại các sự kiện Techmart, Cà phê công nghệ do Thành phố tổ chức. Đây là kênh để nhóm nghiên cứu giới thiệu sản phẩm, gặp gỡ doanh nghiệp và tìm kiếm đối tác chuyển giao.

Chú thích ảnh
Kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và nhà đầu tư là một trong những yếu tố được đặt ra trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Các đề xuất trên cho thấy, chính sách đang hướng tới những công đoạn mà doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu thường khó tự bố trí nguồn lực. Tuy nhiên, hỗ trợ tài chính không thể thay thế việc đánh giá nhu cầu thị trường. Một sản phẩm dù được cấp kinh phí sản xuất thử vẫn khó đi xa nếu chưa giải quyết đúng nhu cầu hoặc không tìm được doanh nghiệp đủ năng lực tiếp tục đầu tư.

Vì vậy, hiệu quả của chính sách sẽ phụ thuộc vào khả năng lựa chọn đúng công nghệ, kiểm soát nguồn lực sau hỗ trợ và kết nối được các bên tham gia. Nhà khoa học tạo ra công nghệ; doanh nghiệp hiểu thị trường và tổ chức sản xuất; nhà đầu tư cung cấp nguồn lực cho giai đoạn mở rộng. Thiếu một trong những mắt xích này, kết quả nghiên cứu vẫn có thể dừng lại ở bằng sáng chế hoặc sản phẩm mẫu.

Thách thức của TP Hồ Chí Minh không chỉ là dành thêm kinh phí cho nghiên cứu mà còn phải tạo được con đường đủ liền mạch để kết quả nghiên cứu bước qua phòng thí nghiệm, được kiểm chứng bằng thị trường và trở thành sản phẩm có giá trị sử dụng.

Bài, ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc
Xây dựng cộng đồng KOL chuyên nghiệp, minh bạch trong kỷ nguyên số
Xây dựng cộng đồng KOL chuyên nghiệp, minh bạch trong kỷ nguyên số

Trên 1.000 người có ảnh hưởng (KOL) và nhà sáng tạo nội dung trên cả nước đã cùng gặp gỡ, trao đổi tại KOL Summit 2026. Không chỉ tạo không gian kết nối cộng đồng, KOL Summit 2026 còn hướng đến xây dựng những chuẩn mực cụ thể, giúp KOL nâng cao hiểu biết pháp luật, quản trị rủi ro và chuyển sức ảnh hưởng thành các giá trị tích cực, góp phần kiến tạo môi trường số an toàn, minh bạch và đáng tin cậy.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN