Hiểu Jazz từ những điều gần gũi nhất

Jazz thường bị gắn với hai chữ “hàn lâm”, như thể muốn bước vào thế giới ấy người nghe phải mang theo ít kiến thức về hòa âm, vài cái tên huyền thoại và tốt nhất là một bộ vest đẹp. Nhưng có lẽ Jazz đơn giản hơn thế nhiều, đôi khi chỉ là vài người đang trò chuyện bằng âm nhạc và người nghe tình cờ ngồi xuống cạnh họ.

Có một định kiến khá bền bỉ về Jazz rằng đây là thứ âm nhạc “khó nghe”. Người chưa quen có thể thấy một bản Jazz hơi ngang. Giai điệu vừa tưởng đã bắt được thì nghệ sĩ bỗng rẽ sang chỗ khác. Piano đang đi một đường, Saxophone dường như kể một câu chuyện khác, tay trống thỉnh thoảng chen vào những nhịp tưởng như chẳng chịu đứng yên. Nghe một lúc, người ta có cảm giác vừa bước vào một cuộc trò chuyện giữa những người nói thứ ngôn ngữ chưa từng học.

Rồi ai đó bảo: “Muốn nghe Jazz phải biết một chút hòa âm”. Nghe đến đó, nhiều người quyết định quay về với playlist Pop, Rock quen thuộc. Nhưng Jazz có lẽ không đòi hỏi nhiều đến thế. Trước khi trở thành một thể loại được giảng dạy trong nhạc viện, nghiên cứu trong sách vở hay vang lên ở những phòng hòa nhạc sang trọng, Jazz từng là âm nhạc của đường phố, quán bar, vũ trường, cộng đồng. Trước khi cần được “hiểu”, Jazz vốn đã được tạo ra để nghe, cảm nhận và đối thoại.

Chú thích ảnh
Jazz từng là âm nhạc của đường phố, quán bar, vũ trường, cộng đồng.

Khi một bản nhạc không cần đi thẳng từ A đến B

Điều dễ khiến người mới nghe Jazz bối rối chính là thứ tạo nên sức quyến rũ lớn nhất của nó: sự ngẫu hứng. Trong nhiều dòng nhạc đại chúng, một ca khúc thường có cấu trúc tương đối rõ ràng. Intro, verse, chorus, có thể thêm bridge rồi trở về chorus. Người nghe biết khá nhanh mình đang ở đâu. Jazz thì lại thường thích làm mọi thứ bớt chắc chắn hơn.

Một chủ đề giai điệu được đưa ra, sau đó saxophone có thể lấy vài nốt trong chủ đề ấy và đi xa. Piano đáp lại, Bass giữ nền nhưng đôi lúc tự kể câu chuyện của mình còn trống không chỉ làm nhiệm vụ giữ nhịp mà liên tục phản ứng với những gì đang xảy ra. Nó giống một bàn ăn có vài người bạn rất hiểu nhau. Một người kể chuyện, người bên cạnh chen vào một câu, người khác cười và có người im lặng khá lâu rồi bất ngờ nói đúng một câu khiến tất cả cùng dừng lại.

Không ai cần biết từ đầu cuộc trò chuyện sẽ kết thúc ở đâu và Jazz sống bằng những khoảnh khắc ấy.

Trong ngôn ngữ Jazz còn có một truyền thống rất quan trọng là “call and response” (gọi và đáp). Một nhạc cụ cất tiếng, nhạc cụ khác trả lời, đôi khi đó chỉ là vài nốt nhưng có khi là cả một đoạn solo dài. Nhiều khi thứ hay nhất lại nằm trong khoảng lặng giữa hai câu nhạc. Bởi vậy, nghe Jazz không nhất thiết phải cố “hiểu” toàn bộ bản nhạc mà có thể chỉ cần chọn một thứ để đi theo, có thể là tiếng contrabass, một đường piano, một tiếng chổi quét rất nhẹ trên mặt trống hay một câu saxophone vừa vang lên rồi biến mất.

Cứ đi theo nó một lúc và thế là đủ.

Jazz từng bước ra từ đường phố

Hình ảnh về Jazz ngày nay đôi khi khá sang trọng. Một quán bar ánh sáng mờ mờ ảo ảo, những ly cocktail đặt trên bàn, người chơi piano mặc sơ mi trắng, khán giả ăn mặc đẹp, nói chuyện vừa đủ. Một bữa tối bình thường dường như cũng có thể tăng thêm vài phần thanh lịch nếu phía sau vang lên một bản Jazz.

Điều đó không sai. Jazz quả thực có khả năng làm không gian trở nên tinh tế rất nhanh. Nhưng lịch sử Jazz lại bắt đầu từ một thế giới ít bóng bẩy hơn nhiều.

Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tại New Orleans và nhiều cộng đồng người Mỹ gốc Phi ở miền Nam nước Mỹ, những yếu tố từ Blues, Ragtime, Spirituals, nhạc diễu hành và nhiều truyền thống âm nhạc khác dần gặp nhau. Jazz hình thành từ chính những cuộc giao thoa ấy. Nó được chơi trong những cuộc diễu hành, những khu phố, quán rượu, câu lạc bộ và các không gian khiêu vũ. Jazz vì thế chưa bao giờ thật sự thuộc riêng về phòng hòa nhạc bởi nguồn gốc của nó gắn với đời sống.

Có lẽ đó là lý do Jazz có một phẩm chất rất dân chủ. Một doanh nhân bước xuống chiếc xe đắt tiền hay một người bán hàng rong đi ngang qua sân khấu đều có thể đứng lại trước cùng một đoạn kèn Trumpet. Người này biết đó là chuẩn mực 12-bar blues, người kia chẳng biết gì cả. Nhưng nếu tiếng kèn khiến cả hai cùng nhớ đến một điều gì đó, âm nhạc đã hoàn thành công việc của mình. Jazz không hỏi người nghe có bằng cấp gì trước khi chạm vào cảm xúc của họ.

Từ Louis Armstrong đến Laufey: Jazz vẫn luôn thay đổi

Lịch sử nhạc Jazz cũng là lịch sử của những con người liên tục tìm cách nói khác biệt. Louis Armstrong khiến Trumpet và giọng hát trở thành những công cụ kể chuyện có sức ảnh hưởng khổng lồ. Ella Fitzgerald biến khả năng ứng tác bằng giọng hát thành một nghệ thuật gần như không giới hạn. Billie Holiday không cần một giọng hát đồ sộ để khiến một câu hát mang theo cả một đời sống.

Chú thích ảnh
Nhóm nhạc Jazz đầu thời kỳ Louis Armstrong.

Miles Davis lại thuộc về một tinh thần khác. Ông nhiều lần thay đổi chính ngôn ngữ âm nhạc của mình, từ Bebop, Cool Jazz tới Modal Jazz rồi Fusion. Với Miles Davis, đôi khi một nốt nhạc được chơi đúng chỗ có thể quan trọng hơn 10 nốt được chơi rất nhanh.

Nat King Cole hay Frank Sinatra giúp những tiêu chuẩn Jazz và Great American Songbook bước sâu vào đời sống đại chúng. Jazz không còn chỉ dành cho người mê nhạc cụ mà đi vào những câu chuyện tình, những căn phòng, những buổi tối rất bình thường.

Rồi nhiều thập niên sau, Norah Jones có thể khiến một thế hệ người nghe tìm đến những hòa âm mang hơi Jazz qua một thứ Pop mềm mại và gần gũi hơn, kiểu như ca khúc “Don’t Know Why” có đoạn: “Don’t know why I didn’t come” nghe ngọt lịm.

Laufey lại là một câu chuyện thú vị của thời đại streaming. Một cô gái trẻ có thể đưa những âm hưởng Jazz Vocal, Bossa Nova, Classical và Pop đến với khán giả Gen Z mà không bắt họ phải đi qua một khóa nhập môn lịch sử Jazz trước đó. Điều này chứng minh một chuyện khá vui là Jazz có thể đã hơn một thế kỷ tuổi nhưng chưa bao giờ thực sự chịu già đi.

Jazz Hà Nội cũng đang có cuộc đối thoại của riêng mình

Ở Hà Nội, Jazz từ lâu đã tồn tại bằng một nhịp điệu tương đối lặng lẽ nhưng bền bỉ. Những cái tên như Quyền Văn Minh gắn với nhiều thập niên vun đắp cho đời sống Jazz của thành phố. Những thế hệ tiếp theo như Quyền Thiện Đắc, Nguyễn Thùy Linh, Dattie Do, Quỳnh Nguyễn và nhiều nghệ sĩ trẻ khác tiếp tục tìm cách đưa Jazz đi vào những cuộc đối thoại mới.

Chú thích ảnh
NSƯT Quyền Văn Minh - một trong những người đặt nền móng trong việc giảng dạy và sáng tác nhạc Jazz tại Việt Nam.

Có người giữ gần hơn với truyền thống, có người thử nghiệm với âm nhạc Việt Nam, có người bước sang những vùng giao thoa với Pop, Electronic hay những hình thức đương đại. Nhờ vậy, Jazz Hà Nội không nhất thiết phải nghe giống New Orleans, New York hay Paris.

Nó có thể có một nhịp điệu khác chậm hơn một chút, trầm hơn một chút. Có khi giống một buổi tối mùa đông ngồi phía sau lớp kính đọng hơi nước, có khi lại là tiếng saxophone vang lên trong một căn phòng nhỏ, ngoài phố xe vẫn chạy và người bán hàng vẫn gọi nhau.

Một Hà Nội rất chất và cũng rất sâu.

Vậy nên bắt đầu nghe Jazz từ đâu? Câu trả lời dễ chịu nhất có lẽ là đừng bắt đầu bằng việc học Jazz, hãy bắt đầu bằng việc nghe nó. Người thích giọng hát có thể đi từ Ella Fitzgerald, Billie Holiday, Nat King Cole, Frank Sinatra đến Norah Jones hay Laufey. Người thích nhạc phim, Piano hoặc những giai điệu êm có thể bắt đầu với Cool Jazz, Jazz Ballad hay Bossa Nova trước khi đi xa hơn.

Sau đó, hãy thử nghe Jazz trực tiếp. Một câu lạc bộ nhỏ thường là nơi rất tốt. Ngồi đủ gần để nhìn thấy tay người chơi Bass di chuyển, thấy nghệ sĩ Piano nhìn sang tay trống trước khi chuyển đoạn, người nghe sẽ hiểu Jazz nhanh hơn nhiều so với đọc vài chục trang lý thuyết.

Festival lại cho một trải nghiệm khác. Ở đó có thể đi ngang một sân khấu, nghe một ban nhạc chưa từng biết tên, đứng lại vì một đoạn solo rồi 10 phút sau mới nhận ra mình đã nghe hết cả bài. Đó có lẽ cũng là điều Hanoi Jazztival có thể đem lại khi Jazz đi ra những không gian công cộng của Hà Nội: giảm bớt khoảng cách giữa một thể loại vốn bị cho là “khó” với những người chưa từng chủ động tìm đến nó.

Chú thích ảnh
Hanoi Jazztival mang Jazz đến gần hơn với khán giả Thủ đô.

Không nhất thiết phải lên đồ đẹp, cũng không nhất thiết phải biết lúc nào nên vỗ tay sau một đoạn solo. Nếu thích thì cứ nghe. Nếu một câu nhạc khiến lòng mình xao động một chút, cứ ở lại thêm một bài.

Một buổi tối nào đó ở Hà Nội, trời bắt đầu se lạnh. Trong một quán nhỏ hay trên một góc phố, tiếng Saxophone vang lên, Piano đi vài nốt phía sau, tay trống gõ nhẹ như thể không muốn làm ai giật mình.

Có thể vẫn chẳng hiểu Jazz là gì nhưng bỗng thấy bản nhạc ấy có vẻ đang nói một chuyện rất quen. Đến lúc đó, có lẽ người nghe đã bước vào Jazz rồi, chỉ là không để ý mà thôi.

Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội năm 2026 - Hanoi Jazztival 2026 với chủ đề “Jazz Hà Nội - Giai điệu không biên giới” diễn ra vào trong ba ngày 17-18-19/09/2026 tại nhiều không gian văn hoá tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội như: Vườn âm nhạc Nhà hát Lớn Hà Nội, Nhà Bát Giác (Vườn hoa tượng đài vua Lý Thái Tổ), Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long, Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật (22 Hàng Buồm), Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Khách sạn Thăng Long Opera và các câu lạc bộ Jazz trên địa bàn thành phố
TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc
Xây dựng thương hiệu Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế thường niên của Thủ đô
Xây dựng thương hiệu Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế thường niên của Thủ đô

Chiều 12/8, thành phố Hà Nội đã tổ chức họp báo thông tin về Liên hoan Nhạc Jazz quốc tế Hà Nội năm 2026 tại khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN