Hệ thống pháp luật về khoa học công nghệ dần định hình
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Vũ Hải Quân cho biết, kể từ khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được ban hành, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội thông qua 10 luật, trình Chính phủ ban hành 33 nghị định, 1 nghị quyết; đồng thời đang tiếp tục hoàn thiện thêm nhiều quyết định và thông tư hướng dẫn.
Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, đây là khối lượng công việc rất lớn, chưa từng có trong lịch sử của Bộ trong một khoảng thời gian ngắn.
Giảng viên Khoa công nghệ điện tử, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI. Ảnh minh họa: Thanh Vũ/TTXVN
“Trong lịch sử Bộ Khoa học và Công nghệ, chưa bao giờ chỉ trong một thời gian ngắn, Bộ có thể hoàn thành một khối lượng văn bản pháp luật đồ sộ như thời gian vừa qua. Nếu không có sự đồng hành của Chính phủ và sự ủng hộ của Quốc hội, rất khó để hoàn thành”, Bộ trưởng nhấn mạnh.
Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho rằng, việc ban hành các luật, nghị định và thông tư mới chỉ là bước khởi đầu. Thách thức lớn hiện nay là làm thế nào để các quy định được hiểu đúng, áp dụng thống nhất và triển khai hiệu quả ở các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.
Cũng theo Bộ trưởng, thời gian qua, việc xây dựng luật pháp, nghị định và thông tư có nhiều điểm mới, rất đột phá. Ví dụ, các quy định về công nghệ chiến lược không chỉ được đề cập trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, mà còn được cụ thể hóa trong Luật Công nghệ cao (sửa đổi) và các nghị định, thông tư hướng dẫn, nhằm tạo khuôn khổ hành lang pháp lý cho công nghệ chiến lược phát triển.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc tham chiếu thông lệ quốc tế khi xây dựng các định mức, cơ chế đãi ngộ dành cho đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ. Bộ Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu mức thu nhập và chính sách của một số quốc gia trong khu vực như Singapore, Thái Lan và Indonesia để làm cơ sở xây dựng các quy định phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đã được nghiên cứu đổi mới mô hình hoạt động theo đúng tính chất của một quỹ tài chính, thay vì vận hành theo cơ chế dự toán ngân sách như trước đây. Việc thay đổi này nhằm tăng tính chủ động trong sử dụng nguồn lực, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ trong giai đoạn mới.
Đồng thời, chức năng của Quỹ cũng được mở rộng. Nếu trước đây, Quỹ chủ yếu hỗ trợ nghiên cứu cơ bản thì nay có thể tham gia hỗ trợ các khâu từ nghiên cứu, phát triển đến tạo ra sản phẩm mẫu.
Đối với giai đoạn đưa sản phẩm ra thị trường, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia (NATIF) sẽ tiếp tục đóng vai trò hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, những đổi mới về cơ chế tài chính và chính sách không thể thực hiện trong một sớm một chiều bởi hệ thống pháp luật có tính liên thông, tác động đến nhiều quy định hiện hành. Việc tạo ra các đột phá cần được triển khai từng bước, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi trong quá trình thực hiện.
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định, đến nay hệ thống thể chế về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cơ bản đã hoàn thiện.
Còn điểm nghẽn khi triển khai
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng khẳng định: “Trong hơn 18 tháng qua, chúng ta đã tập trung rất nhiều nguồn lực để đưa những chủ trương lớn của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống, từng bước biến khát vọng phát triển thành hiện thực.. Điều chúng ta hướng tới không phải chỉ là ban hành thêm các văn bản hay xây dựng thêm nhiều chính sách, mà quan trọng hơn là phải đo được hiệu quả của những chính sách đó. Nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ phải được lượng hóa bằng kết quả cụ thể”.
“Chúng ta phải trả lời được những câu hỏi rất rõ ràng: Đã làm chủ được bao nhiêu công nghệ; Có thêm bao nhiêu sản phẩm được thương mại hóa. Có thêm bao nhiêu doanh nghiệp đổi mới sáng tạo được hình thành và phát triển? Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KH,CN, ĐMST&CĐS) đã đóng góp như thế nào vào tăng trưởng kinh tế của đất nước? Đó mới là những thước đo thực chất của quá trình triển khai Nghị quyết số 57”, Phó Thủ tướng yêu cầu.
Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển, Phó Thủ tướng đề nghị bốn chủ thể quan trọng của hệ sinh thái KH, CN, ĐMST&CĐS cùng hành động mạnh mẽ hơn. Đối với Nhà nước, cần tiếp tục đổi mới tư duy quản lý theo hướng kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong thực thi công vụ.
Đối với đội ngũ nhà khoa học, cần tập trung nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước, nhu cầu của doanh nghiệp và địa phương, lấy hiệu quả ứng dụng và thương mại hóa làm tiêu chí quan trọng đánh giá kết quả nghiên cứu.
Các viện nghiên cứu, trường đại học cần tăng cường nghiên cứu gắn với thực tiễn, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái ĐMST trong nhà trường.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần chủ động đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, mạnh dạn đổi mới công nghệ, tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái ĐMST và trở thành trung tâm của quá trình tiếp nhận, làm chủ và thương mại hóa công nghệ.
Một nội dung được Phó Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh là nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực đầu tư cho KH,CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Theo Phó Thủ tướng, đầu tư cho KH&CN là đầu tư cho tương lai. Tuy nhiên, nếu nguồn lực đã được bố trí nhưng chậm giải ngân sẽ làm mất đi cơ hội phát triển, khiến công nghệ, sản phẩm và doanh nghiệp chậm hình thành.
Phó Thủ tướng đề nghị các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo công tác phân bổ, giao dự toán và giải ngân nguồn lực cho KH,CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đồng thời giao Bộ KH&CN chủ trì xây dựng cơ chế theo dõi, đánh giá kết quả giải ngân của các bộ, ngành và địa phương.