Đào tạo song hành: Đổi mới tư duy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Trước yêu cầu phát triển nhanh của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, giáo dục nghề nghiệp đứng trước áp lực đổi mới chương trình đào tạo, thay đổi tư duy phát triển nguồn nhân lực.

Tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cùng Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đang tạo động lực để các cơ sở đào tạo chuyển từ đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Mô hình đào tạo song hành với sự tham gia thực chất của doanh nghiệp là hướng đi quan trọng nhằm rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động, góp phần hình thành đội ngũ nhân lực có tay nghề cao, làm chủ công nghệ.

Từ tự chủ đến đổi mới tư duy đào tạo

Theo Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ, Giám đốc Trung tâm Đổi mới sáng tạo Nga – Việt, Chủ tịch Viện Công nghệ VinIT, Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW có mối quan hệ bổ trợ chặt chẽ trong phát triển nguồn nhân lực. Nếu Nghị quyết 57 xác định mục tiêu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia thì Nghị quyết 71 tạo cơ chế để các cơ sở giáo dục phát huy quyền tự chủ, chủ động triển khai các giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu đó.

Yêu cầu này đã đặt ra đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay không chỉ là mở thêm ngành học hay điều chỉnh quy mô tuyển sinh mà quan trọng hơn là thay đổi tư duy quản trị và phương thức đào tạo. Từ cách tiếp cận dựa trên năng lực sẵn có của nhà trường, các cơ sở đào tạo cần chuyển sang đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động, bám sát chiến lược phát triển của đất nước và xu hướng công nghệ trên thế giới. Đây cũng là điều kiện để các trường chủ động thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và yêu cầu mới của nền kinh tế.

Cùng với việc đổi mới tư duy quản trị, công tác tuyển sinh cũng cần hướng nhiều hơn đến chất lượng đầu vào và khả năng thích ứng của người học với môi trường công nghệ số. Trong đào tạo, trọng tâm không còn dừng ở việc truyền thụ kiến thức theo phương thức truyền thống mà phải hướng tới phát triển năng lực thực hành, tư duy sáng tạo, kỹ năng số, khả năng học tập suốt đời và năng lực làm việc trong môi trường quốc tế.

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ cho rằng, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và tự động hóa phát triển nhanh, kiến thức chuyên môn có thể nhanh chóng thay đổi. Vì vậy, giáo dục nghề nghiệp cần tập trung hình thành năng lực thích ứng với công nghệ mới để người học có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong từng giai đoạn phát triển, thay vì chỉ trang bị những kiến thức mang tính cố định.

Theo Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ, mô hình đào tạo song hành cũng cần được triển khai theo hướng thực chất hơn, trong đó doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình đào tạo, tổ chức thực hành đến đánh giá kết quả học tập. Sinh viên cần được tiếp cận môi trường làm việc thực tế từ những năm học đầu thay vì chỉ thực tập ở giai đoạn cuối khóa. Cùng với kỹ năng nghề nghiệp, chương trình đào tạo cần thường xuyên cập nhật những công nghệ đang được doanh nghiệp ứng dụng, đồng thời tăng cường ngoại ngữ chuyên ngành và kỹ năng làm việc trong môi trường đa văn hóa để nâng cao khả năng thích ứng của người học.

Để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào quá trình đào tạo, Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Quốc Sỹ cho rằng, cần có cơ chế bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Trong đó, các bên liên quan cần nghiên cứu các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị thực hành, tham gia đào tạo nghề, tiếp nhận học sinh, sinh viên thực tập; hình thành quỹ hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề và cơ chế đồng đầu tư đối với những lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Cùng với việc mở rộng quyền tự chủ, các cơ sở đào tạo cần nâng cao trách nhiệm giải trình và lấy chất lượng đầu ra làm thước đo. Hiệu quả đào tạo nên được đánh giá thông qua tỷ lệ sinh viên có việc làm, mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, khả năng thích ứng với công nghệ mới và năng lực làm việc trong môi trường quốc tế. Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là những người có trình độ học vấn cao mà còn bao gồm đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề có khả năng làm chủ công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số.

Đào tạo gắn với thực tiễn doanh nghiệp

Chú thích ảnh
PGS.TS. Nguyễn Hữu Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học CMC khẳng định đào tạo song hành không chỉ góp phần rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo mà còn giúp người học sớm làm quen với môi trường làm việc thực tế. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quỳnh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học CMC nêu rõ, mô hình đào tạo song hành đang có sự thay đổi so với trước đây. Nếu như trước kia, doanh nghiệp chủ yếu tham gia ở giai đoạn sinh viên thực tập sau khi hoàn thành chương trình học thì nay đã đồng hành ngay từ quá trình xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo đến đánh giá kết quả học tập. Cách làm này giúp quá trình đào tạo gắn chặt hơn với yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.

Trong quá trình đổi mới phương thức đào tạo, nhà trường chú trọng tăng tính chủ động của người học thông qua ứng dụng công nghệ và các phương pháp giảng dạy mới, đồng thời tập trung đào tạo một số lĩnh vực công nghệ theo nhu cầu phát triển nguồn nhân lực. Điểm cốt lõi là doanh nghiệp tham gia xuyên suốt quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình, học liệu đến phối hợp tổ chức giảng dạy, tiếp nhận sinh viên học tập trong môi trường làm việc thực tế, cùng đánh giá kết quả và tham gia tuyển dụng sau khi tốt nghiệp.

Ở góc độ doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Đồng Tâm Nguyễn Văn Lưu cho rằng, việc tham gia đào tạo xuất phát từ nhu cầu phát triển của chính doanh nghiệp. Trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, nếu nguồn nhân lực chưa được đào tạo sát với thực tiễn, doanh nghiệp sẽ phải dành thêm thời gian và chi phí để đào tạo lại trước khi có thể bố trí vào dây chuyền sản xuất. Việc để sinh viên tiếp cận môi trường làm việc ngay trong quá trình học mang lại lợi ích cho cả hai phía.

Doanh nghiệp chủ động chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu sản xuất, giảm thời gian và chi phí đào tạo lại, trong khi sinh viên có điều kiện tiếp cận quy trình sản xuất, công nghệ và môi trường làm việc thực tế ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, qua đó rút ngắn thời gian thích ứng sau khi tốt nghiệp. C

ùng với kỹ năng nghề, người học cần được trang bị khả năng làm chủ các thiết bị thông minh, quản lý dữ liệu sản xuất, truy xuất nguồn gốc điện tử, tiếp cận mô hình sản xuất tuần hoàn và phát triển bền vững. Việc tích hợp những kỹ năng này vào chương trình đào tạo sẽ giúp nguồn nhân lực đáp ứng tốt hơn yêu cầu của doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số.

Thanh Hương- Diệu Thuý (TTXVN)
Tạo động lực phát triển nguồn nhân lực vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tạo động lực phát triển nguồn nhân lực vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Từ chỗ góp phần chia sẻ gánh nặng với hệ thống công lập, các trường đại học tư thục tại Cần Thơ đang từng bước khẳng định vai trò là lực lượng quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN