Tắc nghẽn tại Hormuz: Phép thử cho ngành năng lượng toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz bắt đầu từ cuối tháng 2/2026 đã vượt ra khỏi phạm vi của một sự cố an ninh hàng hải thông thường, trở thành một phép thử quan trọng đối với ngành năng lượng toàn cầu.

Chú thích ảnh
Hình ảnh từ vệ tinh Terra của NASA về Eo biển Hormuz (trái). Ảnh: The Gulf News/TTXVN

Các nhà hoạch định chính sách đang phải đối mặt với một thực tế: mô hình tăng trưởng dựa trên nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu qua các điểm nghẽn hàng hải đã không còn duy trì được tính ổn định cần thiết.

Rung chấn từ xung đột

Tầm quan trọng của eo biển Hormuz được định nghĩa bằng con số cụ thể: đây là tuyến đường vận chuyển khoảng 20 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương 20% lượng tiêu thụ toàn cầu, cùng với 20% sản lượng khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) thế giới. Nhưng kể từ khi xung đột Trung Đông xảy ra vào cuối tháng 2/2026, các cuộc tấn công vào tàu dầu đi qua đây cùng chi phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh tăng vọt đã khiến hoạt động vận tải qua Hormuz gần như đình trệ.

Theo dữ liệu từ công ty phân tích Kpler, lưu lượng tàu dầu qua eo biển này giảm tới 95% chỉ trong ba tuần đầu tháng 3/2026. Hệ quả là giá dầu Brent đã duy trì trên mức 100 USD/thùng suốt nhiều tuần, gây áp lực lạm phát đè nặng lên mọi lĩnh vực sản xuất, đời sống.

Nghiêm trọng hơn là sự đứt gãy nguồn cung LNG. Qatar đã tuyên bố tình trạng bất khả kháng tại nhà máy Ras Laffan sau các sự cố hạ tầng liên quan tới xung đột, đồng nghĩa 20% nguồn cung LNG thế giới không thể được vận chuyển tới khách hàng.

Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho hay, các quốc gia thành viên IEA đồng ý thực hiện đợt giải phóng dầu dự trữ chiến lược lớn nhất từ trước đến nay, lên tới 400 triệu thùng để bình ổn giá trong bối cảnh biến động mạnh.

Tuy nhiên, các chuyên gia tài chính từ ngân hàng Goldman Sachs nhận định, mở kho dự trữ chiến lược chỉ là giải pháp "vùng đệm" ngắn hạn. Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ các giải pháp thay thế như đường ống dẫn dầu ADCOP của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) hay những tuyến đường ống qua Saudi Arabia chỉ có thể gánh vác tối đa khoảng 3,5 - 5,5 triệu thùng/ngày, quá thấp so với nhu cầu thực tế của thế giới.

Cú huých cho chuyển đổi năng lượng

Chú thích ảnh
Những tuabin gió tại bang Sachsen-Anhalt, Đức. Ảnh minh họa: Mạnh Hùng/TTXVN

Sự tê liệt tại eo biển Hormuz đã trở thành một cú huých thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng trên thế giới. Khi hơn 1/5 nguồn cung dầu thô và LNG toàn cầu bị cô lập, các quốc gia buộc phải đối mặt với một thực tế khắc nghiệt: năng lượng xanh không chỉ là cam kết phát thải ròng bằng không (Net Zero) tự nguyện mà là công cụ để bảo vệ kinh tế và chủ quyền quốc gia.

Trong bài phát biểu ngày 23/3, Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres cho biết, năng lượng tái tạo giờ không chỉ là giải pháp cho biến đổi khí hậu mà còn giúp đảm bảo an ninh khí hậu, an ninh năng lượng và an ninh quốc gia. Đến lúc thế giới phải đẩy nhanh quá trình chuyển sang năng lượng tái tạo.

Sự chuyển dịch này được thể hiện rõ nhất qua chính sách của Liên minh châu Âu (EU) và một số nền kinh tế châu Á. Tại EU, theo khuôn khổ REPowerEU mới cập nhật ngày 18/3, các rào cản pháp lý đối với dự án năng lượng tái tạo đã được dỡ bỏ với tốc độ chưa từng thấy. Các quốc gia châu Âu như Đức và Hà Lan đang coi việc lắp đặt turbine gió ngoài khơi là một phần của chiến lược quốc phòng. Logic ở đây rất đơn giản: ánh nắng và gió là nguồn tài nguyên nội địa, không thể bị phong tỏa hay đánh thuế bởi bất kỳ thế lực địa chính trị nào tại các địa điểm xa xôi.

Tại Trung Quốc và Ấn Độ, cuộc khủng hoảng đã thúc đẩy một quá trình xoay hướng tập trung đầu tư và công nghệ. Thay vì tiếp tục đầu tư vào các trạm tiếp nhận LNG mới vốn đang bị bỏ trống do nguồn cung từ Qatar bị cắt đứt. Các nước này đang dồn lực vào hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS) và thủy điện tích năng. Mục tiêu là tạo ra một lưới điện có khả năng tự cân bằng mà không cần đến khí đốt làm nguồn điện nền.

Những rào cản trước mắt

Chú thích ảnh
Tàu thuyền đậu ngoài khơi Fujairah, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất UAE), trong bối cảnh Iran hạn chế hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz, ngày 3/3/2026. Ảnh: REUTERS/TTXVN

Mặc dù, khủng hoảng tạo ra động lực thúc đẩy năng lượng sạch, nhưng nó cũng tạo ra những lực cản kỹ thuật đáng kể. Sự gián đoạn tại Hormuz không chỉ ảnh hưởng đến dầu mỏ mà còn làm đình trệ luồng vận chuyển các khoáng sản thiết yếu và bán thành phẩm phục vụ cho chính việc sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo.

Theo các nhà phân tích chuỗi cung ứng, chi phí vận tải tăng cao và phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh đã khiến giá thành của lithium, đồng và cobalt tăng từ 10-15%. Đây đều là những kim loại thiết yếu để sản xuất pin điện và turbine gió. Điều này tạo ra một nghịch lý: trong khi nhu cầu chuyển đổi tăng cao, thì chi phí để xây dựng các trang trại điện gió hay nhà máy pin cũng tăng theo.

Ngoài ra, tại một số quốc gia đang phát triển, áp lực lạm phát do giá năng lượng tăng cao đã buộc chính phủ phải cắt giảm ngân sách cho các dự án xanh dài hạn để tập trung vào những biện pháp trợ giá nhiên liệu ngắn hạn nhằm ổn định xã hội.

Thêm vào đó, rủi ro đứt gãy lưới điện đã khiến một số nền kinh tế như Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Thái Lan phải tạm thời quay lại với điện than. Tại Nhật Bản và Hàn Quốc, giới chức đã đồng ý tái khởi động một loạt nhà máy điện hạt nhân như một cách để đảm bảo nguồn điện khi nguồn cung LNG hạn chế.

Đây là những "bước lùi tạm thời" nhưng cần thiết về mặt kỹ thuật, cho thấy tiến trình chuyển đổi năng lượng là một lộ trình phức tạp, đòi hỏi sự cân bằng giữa mục tiêu dài hạn và khả năng chống chịu tức thời của hệ thống.

Nhìn về dài hạn

Chú thích ảnh
Tàu chở khí tự nhiên hoá lỏng (LNG) neo gần nhà máy LNG trên đảo Sakhalin, ngoại ô thị trấn Korsakov thuộc Liên bang Nga. Ảnh tư liệu: AFP/TTXVN

Các chuyên gia năng lượng từ Đại học Columbia cũng như các tổ chức nghiên cứu cho rằng, xung đột Trung Đông năm 2026 đánh dấu sự sụp đổ của quan điểm coi LNG là nhiên liệu cầu nối hoàn hảo cho quá trình chuyển đổi sang năng lượng tái tạo. Khi khí đốt bộc lộ sự mong manh tương tự dầu mỏ, nhiều nền kinh tế sẽ ưu tiên lựa chọn xu hướng "điện hóa hoàn toàn”.

Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp cũng sẽ phải trải qua giai đoạn tái cơ cấu chuỗi cung ứng để tăng sức chống chịu trước khủng hoảng. Theo dự báo mới nhất của ngân hàng Goldman Sachs, nếu tình trạng ách tắc tại Hormuz không được giải quyết trước tháng 6/2026, thế giới sẽ chứng kiến một đợt tái cấu trúc công nghiệp sâu rộng.

Các ngành công nghiệp nặng tiêu thụ nhiều năng lượng như luyện kim, hóa chất sẽ phải dịch chuyển đến gần những nguồn năng lượng tái tạo dồi dào như Bắc Âu hoặc các vùng có nguồn điện Mặt Trời dồi dào. Đây là cách để các doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro vận tải và chi phí năng lượng biến động.

Nhìn rộng hơn, nếu cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã dẫn đến sự ra đời của các kho dự trữ dầu chiến lược và sự lên ngôi của xe hơi tiết kiệm nhiên liệu, thì cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz năm 2026 đang đặt nền móng cho một hệ thống kinh tế mới. Việc đánh giá đúng mức những rủi ro hiện tại sẽ không làm chậm lại quá trình chuyển đổi, mà ngược lại sẽ biến nó từ một cam kết tự nguyện thành một chiến lược sinh tồn bắt buộc cho mọi nền kinh tế.

Hương Thủy (TTXVN)
Xung đột tại Trung Đông: Iran siết kiểm soát eo biển Hormuz
Xung đột tại Trung Đông: Iran siết kiểm soát eo biển Hormuz

Theo thông báo của Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) ngày 24/3, Iran chỉ cho phép các tàu “không thù địch” đi qua eo biển Hormuz nếu tuân thủ đầy đủ quy định an toàn và phối hợp với cơ quan chức năng nước này, trong bối cảnh tuyến hàng hải chiến lược này đang bị kiểm soát chặt do căng thẳng leo thang tại Trung Đông.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN