Phát biểu khai mạc Toạ đàm, ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển KHCN Quốc gia (NAFOSTED) của Bộ KHCN, Trưởng đoàn công tác, nhấn mạnh, mục đích của đoàn công tác, bao gồm thành viên các đơn vị nòng cốt của Bộ KHCN tham gia xây dựng và thực thi chính sách về KHCN, là giới thiệu một số điểm mới trong Luật KHCN&ĐMST 2025, những cơ chế chính sách vừa được Nhà nước ban hành, trong đó có những cơ chế đặc biệt, nhấn mạnh vai trò của đội ngũ trí thức ở nước ngoài. Toạ đàm cũng nhằm mục đích tập hợp các ý kiến đóng góp, thu hút sự tham gia của cộng đồng trí thức ở Đức trong hoàn thiện cơ chế chính sách, xây dựng thông tư, hướng dẫn, nghị định dưới luật để triển khai hiệu quả Luật KHCN&ĐMST.
GS. TSKH. Nguyễn Xuân Thính phát biểu tại Toạ đàm. Ảnh: Thu Hằng/TTXVN
Thay mặt các nhà khoa học Việt Nam tại Đức, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Xuân Thính, Đại học TU Dortmund, quyền Chủ tịch Liên hiệp hội người Việt Nam tại CHLB Đức, Chủ tịch Mạng lưới Đổi mới sáng tạo Việt-Đức (VGI), hoan nghênh đoàn công tác đến Đức để chia sẻ những chính sách mới về phát triển công nghệ lõi và tăng cường thu hút nhân lực KHCN, tăng cường kết nối các nhà khoa học, các viện nghiên cứu ở Đức, tận dụng nguồn chất xám của các nhà khoa học Việt Nam tại Đức. Ông bày tỏ mong muốn Bộ KHCN phát triển mạnh mẽ chương trình tài trợ chung cho các nhà nghiên cứu, đặc biệt là nhà nghiên cứu trẻ, tổ chức hội thảo chuyên đề và mời gọi nghiên cứu chung, kết nối Việt Nam với các mạng lưới nghiên cứu mạnh của Đức.
Ông cũng chia sẻ những kinh nghiệm trong xây dựng các dự án nghiên cứu chung ở Việt Nam, làm việc cùng các trường, các viện nghiên cứu trong nước, hỗ trợ các đoàn công tác trong nước đến Đức làm việc, qua đó kết nối các nhà khoa học, trí thức hai nước, giúp đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu ở Việt Nam.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định: “Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước”.
Trên cơ sở Nghị quyết 57, Luật KHCN&ĐMST 2025 đã được xây dựng và được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 27/6/2025, chính thức có hiệu lực từ ngày 1/10/2025. Đây được xem là bước đi trọng tâm nhằm thể chế hóa trực tiếp các định hướng của Nghị quyết 57.
Các bài trình bày của các thành viên đoàn công tác của Bộ KHCN đã nêu rõ, Luật KHCN&ĐMST 2025 không chỉ kế thừa các quy định về KHCN mà còn tạo khuôn khổ pháp lý để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia; đổi mới cơ chế tài chính; tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho tổ chức khoa học công nghệ; chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thúc đẩy chuyển giao công nghệ và phát triển thị trường KHCN.
Việc ban hành luật này cũng góp phần khắc phục những điểm nghẽn kéo dài như thủ tục tài chính rườm rà, cơ chế khoán chưa thực sự thông thoáng, thiếu công cụ pháp lý hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cũng như sự gắn kết còn hạn chế giữa cơ quan quản lý nhà nước, viện trường và doanh nghiệp.
Đoàn công tác cũng giới thiệu với các nhà khoa học Việt Nam tại Đức nội dung Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.
Ông Nguyễn Phú Bình, Phó Giám đốc NAFOSTED, giới thiệu về Luật KHCN&ĐMST 2025. Ảnh: Thu Hằng/TTXVN
Trưởng đoàn công tác Nguyễn Phú Bình nhấn mạnh, hợp tác quốc tế là giải pháp quan trọng trong phát triển KHCN, cần sự chung tay của cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam tại nước ngoài. Luật KHCN&ĐMST đã có nhiều chính sách thu hút, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài như: Chính sách về tuyển dụng, lao động và học tập; chính sách về tiền lương; chính sách về nhà; chính sách về khen thưởng và vinh danh...
Các nhà khoa học, chuyên gia người gốc Việt tham dự Toạ đàm đều bày tỏ vui mừng và phấn khởi khi được giới thiệu những điểm đột phá của Luật KHCN&ĐMST, khơi thông những điểm nghẽn trước đây vốn gây trở ngại cho việc hợp tác nghiên cứu giữa các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài với các tổ chức trong nước. Nhiều ý kiến đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nghiên cứu thông qua hợp tác nghị định thư, đưa nghiên cứu sinh đi học tập ở nước ngoài giúp đa dạng hoá nghiên cứu, tăng cường năng lực nghiên cứu…
Giáo sư Trần Đoàn Duy Hải, Đại học Y khoa Göttingen, nhấn mạnh tầm quan trọng của đào tạo nguồn nhân lực. Ông đề xuất, khi tiến hành các dự án nghiên cứu khoa học, kết quả đào tạo nhân lực nghiên cứu cần được coi là một thành quả quan trọng của dự án chứ không chỉ đánh giá các kết quả nghiên cứu.
Ông cũng đề cập đến những khó khăn ở Việt Nam trong việc xin cấp phép lần đầu cho các sản phẩm KHCN chưa từng được cấp phép trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực y khoa, khiến Việt Nam khó có thể đi đầu trong đột phá công nghệ. Ông dẫn ví dụ hiện ở Đức có luật áp dụng công nghệ y khoa chưa được cấp phép vì mục đích nhân đạo để điều trị cho bệnh nhân nan y đã vô phương cứu chữa.
Đây được hiểu như một cơ chế „sandbox“, là một cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cho phép doanh nghiệp hay tổ chức thử nghiệm các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ hoặc mô hình kinh doanh mới trong một môi trường pháp lý giới hạn, được đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước, trước khi doanh nghiệp hay tổ chức nhân rộng mô hình chính thức. Cơ chế này, theo Bộ KHCN, phải do các bộ chuyên môn tự xây dựng cho mình và việc này sẽ cần sự đóng góp chuyên môn của các nhà khoa học ở nước ngoài.
Các đại biểu tham dự Toạ đàm đã trao đổi với đoàn công tác các vấn đề liên quan đến những thay đổi trong tư duy chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm của Đức trong tuyển chọn đề tài nghiên cứu để sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học, phòng thí nghiệm dùng chung, xây dựng trung tâm trí tuệ nhân tạo (AI) quốc gia và dữ liệu AI mở dùng chung, phát triển mô hình ngôn ngữ lớn dành cho tiếng Việt, văn hóa Việt để bảo tồn bản sắc quốc gia…
Kết thúc Toạ đàm, Trưởng đoàn công tác Nguyễn Phú Bình đánh giá cao vai trò của Văn phòng KHCN, Đại sứ quán Việt Nam tại Đức, trong kết nối mạng lưới nhà khoa học, trí thức Việt Nam tại Đức và đề nghị Văn phòng KHCN tiếp tục thu nhận những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học gốc Việt tại Đức trong quá trình xây dựng các chính sách KHCN.