Đại hội XIV của Đảng:

Mục tiêu xuất khẩu nông lâm thủy sản đến năm 2030 đạt 95 - 100 tỷ USD  

Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng sinh thái, nâng cao giá trị gia tăng, duy trì tốc độ tăng trưởng cao; đồng thời đảm bảo thị trường tiêu thụ được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản liên tục tăng hàng năm, đưa nông sản Việt Nam có mặt ở trên 196 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Xuất khẩu nông lâm thuỷ sản chuyển mình

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho biết, trong 40 năm đổi mới và nhất là từ khi triển khai và thể chế hóa Nghị quyết Trung ương 7 khóa X và Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành và chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ các chương trình, đề án và cơ chế chính sách quan trọng. Nổi bật là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Nhờ đó, nông nghiệp được cơ cấu lại và phát triển theo hướng sinh thái, nâng cao giá trị gia tăng, duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao; thị trường tiêu thụ được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản liên tục tăng qua các năm, nông sản Việt Nam có mặt ở trên 196 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

Hiện nay, nông nghiệp Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, đặc biệt là phát triển các sản phẩm chế biến, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao. 

Cùng với đó, cơ chế chính sách và khung pháp lý ngày càng được hoàn thiện, thu hút, tạo động lực cho đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Giai đoạn 2021 - 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình cấp có thẩm quyền ban hành theo thẩm quyền 365 văn bản quy phạm pháp luật, gồm: 4 Luật, 2 Nghị quyết của Quốc hội, 60 Nghị định của Chính phủ, 14 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 285 Thông tư của Bộ trưởng. Các chính sách được ban hành đang phát huy hiệu quả huy động nguồn lực cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; hỗ trợ người dân phát triển sản xuất kinh doanh; tạo động lực cho phát triển sản xuất nông nghiệp tập trung, quy mô lớn, xúc tiến thương mại, mở cửa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu.

Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp giai đoạn 2021 – 2025, đặc biệt là tác động của đại dịch COVID-19, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, xung đột quân sự và biến đổi khí hậu, ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản (NLTS) của Việt Nam liên tục tăng trưởng từ 42,3 tỷ USD năm 2020 lên tới 62,5 tỷ USD năm 2024 (tăng 51% sau 5 năm); tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu từ 10 - 18%/năm, ngoại trừ năm 2023 có suy giảm nhẹ 1,5% do tác động của dịch bệnh COVID-19; số lượng mặt hàng duy trì giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD tăng từ 08 mặt hàng năm 2020 lên tới 11 mặt hàng năm 2024, trong đó mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 3 tỷ USD tăng từ 5 mặt hàng lên 7 mặt hàng, tăng 40% so với năm 2020.

Chú thích ảnh
Sản xuất chế biến cá hộp xuất khẩu tại nhà máy thực phẩm đóng hộp KTC, Công ty cổ phần thương mại Kiên Giang. Ảnh: Lê Huy Hải/TTXVN

Đặc biệt, năm 2024 là một năm bứt phá cả về sản xuất và xuất khẩu khi kim ngạch tăng 18,7% và thặng dư thương mại 17,9 tỷ USD, tăng  46,8% so với năm 2023. 

Bước sang năm 2025, sự thay đổi chính sách thuế quan của Hoa Kỳ ngay những tháng đầu năm đã tiếp tục tạo ra những biến động khó lường đối với các nền kinh tế trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, trong 10 tháng đầu năm 2025, tổng giá trị xuất khẩu ước đạt 58,1 tỷ USD (tăng 12,9%) và nhập khẩu ước đạt 40,5 tỷ USD (tăng 11,5%) so với cùng kỳ năm 2024. 

Như vậy, trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu NLTS liên tục tăng qua các năm, năm 2021 đạt 48,6 tỷ USD, năm 2022 đạt 53,53 tỷ USD, năm 2023 đạt 53,01 tỷ USD năm 2023, năm 2024 đạt 62,5 tỷ USD và 10 tháng đầu năm 2025 đạt 58,1 tỷ USD, dự kiến cả năm đạt 65 tỷ USD và có thể cao hơn nếu thị trường không xuất hiện các yếu tố biến động bất thường. Tốc độ tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu NLTS giai đoạn 2021 - 2024 khoảng 9%/năm (cao hơn mục tiêu đề ra 5%/năm). Cơ cấu thị trường xuất khẩu tiếp tục được giữ ổn định, phạm vi thị trường duy trì với trên 190 nước và vùng lãnh thổ. 

“Xuất khẩu NLTS Việt Nam đã có sự chuyển mình mạnh mẽ từ lượng sang chất, từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp thành ngành xuất khẩu trụ cột, hội nhập toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế, ổn định cán cân thương mại, phát triển nông thôn và thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khẳng định.

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, nhưng xuất khẩu các sản phẩm NLTS của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như: Xuất khẩu nhiều nhưng giá trị thấp, vẫn còn tình trạng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào một số thị trường và chất lượng NLTS xuất khẩu chưa đồng đều; tỷ lệ sản phẩm có thương hiệu còn ít dù có nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu ở vị trí dẫn đầu thế giới, có đến hơn 80% chưa xây dựng được thương hiệu, chưa có logo, nhãn mác của Việt Nam. Điều này là hạn chế lớn, làm giảm sức cạnh tranh sản phẩm, đồng thời hạn chế sự tham gia sâu vào chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu, hệ thống phân phối bán lẻ của các nước nhập khẩu.

Mục tiêu đến năm 2030 đạt 95 – 100 tỷ USD

Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành quốc gia xuất khẩu NLTS và thực phẩm chất lượng cao, có vị thế vững chắc trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trên cơ sở Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu NLTS giai đoạn 2026 – 2030 đạt 6 – 8%/năm; trong trường hợp không xảy ra các biến động lớn về thị trường và tác động đột biến của yếu tố thời tiết, dịch bệnh tới sản xuất, dự báo kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản đến năm 2030 ước đạt 95 - 100 tỷ USD. 

Chú thích ảnh
Phân loại, cấp đông cá tra phi lê xuất khẩu tại nhà máy của Công ty CP Gò Đàng Tiền Giang (tỉnh Tiền Giang cũ). Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Thời gian tới, Bộ sẽ hoàn thiện và cụ thể hóa các thể chế mang tính định hướng phát triển thị trường nông sản và hội nhập phù hợp với các Luật chuyên ngành; tập trung triển khai các cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ điểm nghẽn và xây dựng các chuỗi cung ứng nông sản bền vững; đơn giản hóa thủ tục xuất khẩu, kiểm dịch, kiểm định tiêu chuẩn và môi trường; tránh cản trở, ách tắc quá trình thông quan tại các cửa khẩi; thúc đẩy tài chính xanh, tín dụng xanh; đầu tư vào chuỗi giá trị nông sản sạch, an toàn; mở rộng thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp, phòng ngừa rủi ro thiên tai, dịch bệnh.

Cùng với đó, Bộ tiếp tục tăng cường thông tin, định hướng, chỉ đạo địa phương để kịp thời điều chỉnh sản xuất trước những biến động của thị trường, tránh hiện tượng phát triển nóng, thiếu bền vững, đặc biệt là thận trọng trong vấn đề mở rộng diện tích. Trước mắt, rà soát sự phát triển sản xuất một số ngành hàng để đưa ra khuyến cáo kịp; kịp thời nắm bắt tình hình sản xuất nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu; tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp, người nông dân trong tình huống sụt giảm đơn hàng xuất khẩu nhằm đảm bảo nguồn cung nguyên liệu bền vững…

Về quản lý chất lượng sản phẩm, chế biến và phát triển thị trường, Bộ sẽ rà soát, hoàn thiện chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về quản lý chất lượng nông lâm thủy sản, hài hòa với quốc tế; phát triển hạ tầng logistics, chế biến sâu, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh nông sản Việt Nam; xây dựng, phát triển nhãn hiệu, thương hiệu nông sản gắn với giá trị văn hóa, sản phẩm bản địa; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế...

Đặc biệt, Bộ sẽ tăng cường các biện pháp mở cửa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu sang các thị trường lớn, truyền thống như Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản…Cùng với đó, tận dụng tối đa cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm có lợi thế của Việt Nam sang các thị trường tiềm năng, mới nổi như Hàn Quốc, ASEAN, Trung Đông…

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, Bộ cũng sẽ quan tâm thúc đẩy thị trường tiêu thụ trong nước, thúc đẩy tiêu dùng nông sản tại các thành phố lớn; phối hợp với địa phương lựa chọn tổ chức luân phiên các Lễ hội ngành hàng; duy trì các diễn đàn kết nối tiêu thụ nông sản theo chuyên đề, ưu tiên các nhóm hàng đang có sự suy giảm xuất khẩu hoặc nhóm hàng có nguy cơ suy giảm khi thị trường có biến động về chính sách; đồng thời, hỗ trợ các địa phương trong tuyên truyền, quảng bá, kết nối chuyển hướng tiêu thụ tại thị trường nội địa và các thị trường xuất khẩu tiềm năng khác... 

Ngoài ra, Bộ sẽ tăng cường chuyển đổi số; thực hiện đột phá trong ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tổ chức thực hiện hiệu quả Kế hoạch hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị và các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, giúp tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ số trong sản xuất chế biến NLTS; phát triển hệ thống Logistics phục vụ nông nghiệp, nông thôn hiện đại.

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc
Quyết tâm xây dựng nền nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh, ứng dụng công nghệ số
Quyết tâm xây dựng nền nông nghiệp bền vững gắn với chuyển đổi xanh, ứng dụng công nghệ số

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết, thời gian tới, toàn ngành Nông nghiệp và Môi trường quyết tâm xây dựng nền nông nghiệp bền vững, hiệu quả hơn gắn với chuyển đổi xanh trong Kỷ nguyên số, phát triển kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ số gắn với bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN