Khơi thông vốn tín dụng xanh để hỗ trợ tăng trưởng 2 con số

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, để tín dụng xanh trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng bền vững, Việt Nam cần có định hướng mạnh mẽ từ chính sách, cùng với việc tháo gỡ rào cản thủ tục hành chính; đồng thời sớm ban hành hướng dẫn về mua sắm công xanh, tín dụng xanh.

Ngân hàng gặp khó trong xác định, phân loại dự án xanh

Ngày 4/5 tới đây, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) sẽ tròn 1 năm đi vào cuộc sống, trong đó đặt trọng tâm đẩy mạnh tín dụng xanh, khuyến khích các tổ chức tín dụng (TCTD) giảm lãi suất cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào các dự án xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững theo khung ESG (môi trường - xã hội - quản trị). Đây là đòn bẩy quan trọng khơi thông dòng vốn, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh. 

Đáng chú ý, Nghị quyết 198/2025/QH15 của Quốc hội quy định doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh được hỗ trợ lãi suất 2%/năm khi vay vốn triển khai các dự án xanh. Mới đây, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã tạo ra sự thay đổi mang tính nền tảng trong tư duy phát triển, dịch chuyển bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tăng trưởng xanh trong kỷ nguyên mới.

Trong bối cảnh thị trường tài chính xanh tại Việt Nam còn đang trong giai đoạn phát triển, ngân hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nguồn vốn cho các dự án chuyển đổi xanh. Thực tế, ngân hàng đang là kênh vốn xanh chủ lực của nền kinh tế.

Thời gian qua, nhiều ngân hàng như Vietcombank, BIDV, MBBank… đã triển khai các gói vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn thị trường từ 1,5 -2% mỗi năm; đồng thời áp dụng thời gian ân hạn linh hoạt. Không chỉ vậy, tín dụng xanh đang lan từ doanh nghiệp sang cá nhân, gắn với tiêu dùng bền vững. Người Việt sẵn sàng chi thêm, qua đó kéo dòng vốn ngân hàng dịch chuyển, vừa tối ưu chi phí, vừa thúc đẩy tăng trưởng xanh.

Hiệu quả kinh tế thể hiện rõ qua các ví dụ cụ thể. Một người mua xe ô tô điện trị giá 1,2 tỷ đồng trong năm 2026 có thể tiết kiệm ngay 60 - 70 triệu đồng nhờ mức lệ phí trước bạ chỉ khoảng 5 - 6%, thấp hơn đáng kể so với xe sử dụng nhiên liệu truyền thống. Nếu sử dụng khoản vay xanh với lãi suất khoảng 6,5%/năm, chi phí lãi vay trong 5 năm tiếp theo có thể giảm thêm khoảng 35 triệu đồng.

Đối với lĩnh vực bất động sản, các công trình đạt chứng chỉ xanh như EDGE hoặc LEED không chỉ giúp tiết kiệm khoảng 20% chi phí năng lượng mỗi tháng mà còn có khả năng tăng giá từ 10 - 12% so với các dự án cùng phân khúc. Điều này cho thấy tín dụng xanh không chỉ là khoản chi tiêu mà còn mang lại giá trị đầu tư rõ rệt.

Tuy nhiên nhiều chuyên gia cho rằng, vẫn có khoảng 50% doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn khi chuyển đổi xanh. Tại Diễn đàn "Tận dụng nguồn lực thúc đẩy tăng trưởng xanh 2026" do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức mới đây, TS. Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu cho rằng, dù đã có bước tiến trong khoảng một thập kỷ qua, các công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh vẫn còn tương đối mới mẻ tại Việt Nam.

Về quy mô, đơn cử tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh của ngân hàng đạt khoảng 780.000 - 850.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 4,1% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 20 - 23%/năm trong giai đoạn 2017 - 2025, riêng năm 2025 tăng khoảng 14 - 15%.

Chú thích ảnh
TS. Nguyễn Trí Hiếu, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn cầu.

Theo chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu, tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh được đánh giá là khá nhanh song quy mô tuyệt đối còn nhỏ, mới xấp xỉ 4% tổng dư nợ. “Tín dụng xanh đã không còn là xu hướng thử nghiệm, mà đang trở thành chiến lược chính thức của nhiều ngân hàng nhưng cũng còn nhiều rào cản”, TS Hiếu nhận định.

Trước hết, khung pháp lý cho tín dụng xanh vẫn chưa hoàn chỉnh, đặc biệt hệ thống phân loại dự án xanh (taxonomy xanh). Điều này khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc xác định và phân loại các dự án đủ điều kiện tiếp cận vốn xanh. Bên cạnh đó, việc xác định tiêu chí “thế nào là xanh” vẫn là một vấn đề phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra hiện tượng “tẩy xanh” - “greenwashing”, tức là gắn nhãn xanh cho các dự án chưa thực sự đáp ứng tiêu chuẩn môi trường.

Từ thực tế này, TS Nguyễn Trí Hiếu đề xuất Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần có định hướng mạnh mẽ hơn, trong đó có thể xem xét giao chỉ tiêu cụ thể để nâng tỷ trọng tín dụng xanh lên tối thiểu 5% trong tổng dư nợ của mỗi ngân hàng, thay vì hoàn toàn dựa vào tính tự nguyện.

“Nếu ngân hàng thực hiện đúng sẽ có cơ chế tái cấp vốn hoặc cơ chế về nới room tín dụng…; ngược lại sẽ có biện pháp xử lý. Cần nhìn đây là lợi ích của cả nền kinh tế, do đó các ngân hàng hãy tăng cường tín dụng xanh, không đợi NHNN chỉ đạo”, TS Nguyễn Trí Hiếu kêu gọi.

Sớm hoàn thiện hướng dẫn về mua sắm công xanh, tín dụng xanh

Đối với thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, theo TS Nguyễn Trí Hiếu, đây là một bước đi quan trọng trong quá trình hình thành thị trường tài chính xanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, quy mô vẫn còn nhỏ so với tiềm năng và nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Hiện, thị trường ghi nhận khoảng 10 - 20 chương trình phát hành lớn bao gồm cả phát hành trong nước và quốc tế. Nếu tính chi tiết theo từng lô trái phiếu, số lượng các đợt phát hành có thể lên tới vài chục đợt. Tuy nhiên, so với các thị trường phát triển, số lượng trái phiếu xanh tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các thương vụ có quy mô lớn.

Trong khi đó, Việt Nam chưa có hệ thống phân loại dự án xanh (taxonomy xanh) rõ ràng; số lượng sản phẩm trái phiếu xanh trên thị trường còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các thương vụ quy mô lớn. “Nếu khung pháp lý được hoàn thiện, tiêu chuẩn hóa được đẩy mạnh và thị trường được mở rộng về quy mô cũng như đa dạng hóa sản phẩm, trái phiếu xanh được kỳ vọng sẽ trở thành một kênh huy động vốn quan trọng, bổ sung hiệu quả cho tín dụng xanh trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của nền kinh tế”, TS Nguyễn Trí Hiếu chia sẻ.

Chú thích ảnh
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.

Đề cập về mô hình tăng trưởng bền vững cho Việt Nam, PGS.TS. Bùi Quang Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, tăng trưởng xanh là lời giải cho bài toán phát triển kép, vừa duy trì tốc độ tăng trưởng, vừa bảo đảm yếu tố bền vững. Đây không chỉ là vấn đề môi trường mà là quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, hướng tới mô hình tăng trưởng mới phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay.

Theo đó, tăng trưởng xanh cần được thúc đẩy trên 4 trụ cột chính gồm: Phát triển năng lượng và hạ tầng xanh; nâng cấp công nghiệp; mở rộng tài chính xanh; và nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu. Trong đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng vai trò then chốt, quyết định hiệu quả của quá trình chuyển đổi. Đáng chú ý, các nguồn lực tăng trưởng đang có sự dịch chuyển rõ rệt, từ tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ sang công nghệ, nhân lực chất lượng cao và đổi mới sáng tạo. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hình thành mô hình tăng trưởng hiện đại, bền vững hơn trong tương lai.

Mặc dù thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, cụ thể, các hoạt động bảo vệ môi trường được hỗ trợ về đất đai, hạ tầng, vốn và thuế. Trong lĩnh vực mua sắm công, các dự án đầu tư và nhiệm vụ sử dụng ngân sách Nhà nước được ưu tiên sử dụng sản phẩm, dịch vụ đạt Nhãn sinh thái Việt Nam.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) thừa nhận, hệ thống văn bản hướng dẫn còn chưa đầy đủ, thiếu sự đồng bộ giữa các lĩnh vực như: Mua sắm công xanh, tín dụng xanh, trái phiếu xanh hay cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.

Bên cạnh đó, thủ tục hành chính và điều kiện tiếp cận nguồn tài chính xanh vẫn còn phức tạp. Cơ sở dữ liệu và thông tin về các dự án xanh còn thiếu; năng lực xác nhận, giám sát và đánh giá dự án xanh còn hạn chế, tiềm ẩn rủi ro “giả xanh”.

Chú thích ảnh
Ông Nguyễn Trung Thắng, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và môi trường.

Ông Nguyễn Trung Thắng đề xuất, Việt Nam cần tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, trong đó sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn liên quan đến mua sắm công xanh, tín dụng xanh và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân.

Cùng với đó, cần đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện tiếp cận các ưu đãi để doanh nghiệp dễ dàng tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin về các dự án xanh cũng được xem là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao tính minh bạch và khả năng kết nối nguồn lực; tăng cường hợp tác quốc tế để huy động các nguồn lực tài chính xanh, đồng thời nâng cao năng lực cho các bên liên quan, bao gồm doanh nghiệp, TCTD và các đơn vị xác nhận, đánh giá dự án xanh.

TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh (BCSI)

Việt Nam muốn tăng trưởng 2 con số phải quyết liệt tăng trưởng xanh. Bối cảnh ở Trung Đông chính là cơ hội, sức ép để tái cơ cấu ngành năng lượng theo hướng xanh. Nhìn dài hạn, sân chơi của thị trường mang tính quyết định: thị trường đòi hỏi “xanh”, người tiêu dùng đòi hỏi “xanh”. 

Chúng ta cần nhìn tăng trưởng xanh đừng chỉ như tuân thủ để bảo đảm chỉ tiêu này, chỉ tiêu kia. Mặc dù điều này rất quan trọng, nhưng xanh thực sự phải là đột phá, là cải tổ cách thức sống, cách thức phát triển, tức không chỉ là tuân thủ mà phải là tạo giá trị.
Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc
 Gỡ rào cản cơ chế để tín dụng xanh ‘tăng tốc’
Gỡ rào cản cơ chế để tín dụng xanh ‘tăng tốc’

Trong tổng dư nợ toàn nền kinh tế Việt Nam hiện khoảng 18,2 triệu tỷ đồng, dư nợ tín dụng xanh mới chỉ đạt khoảng 750.000 tỷ đồng đến dưới 1 triệu tỷ đồng, chiếm tỷ trọng còn rất khiêm tốn. Đặc biệt, một trong những rào cản lớn là đặc thù nguồn vốn.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN