“Tỷ lệ hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn sau vẫn chiếm khoảng 24 - 28% với số tiền hoàn thuế tương đối lớn, cần phải kiểm soát chặt chẽ”, đại diện Cục Thuế cho biết.
Gian lận hoàn thuế đối với những doanh nghiệp không còn hoạt động
Thiếu tướng Chử Văn Dũng, Phó Giám đốc Học viện Cảnh sát Nhân dân cho biết, trong bối cảnh kinh tế thị trường, thương mại điện tử và chuyển đổi số bùng nổ, tình hình tội phạm về hóa đơn và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Các đối tượng đã lợi dụng triệt để chính sách thông thoáng trong việc đăng ký thành lập doanh nghiệp và phát hành hóa đơn điện tử để thiết lập các “doanh nghiệp ma”.
Cơ quan Cảnh sát điều tra thi hành lệnh bắt tạm giam các bị can liên quan đường dây mua bán trái phép hóa đơn chứng từ. Ảnh: Công an tỉnh Đồng Nai
“Những thực thể này không có hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế nhưng lại thực hiện mua bán hóa đơn trái phép, hợp thức hóa chứng từ nhằm kê khai khống đầu vào để chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ ngân sách Nhà nước (NSNN). Tính chất nguy hiểm của loại tội phạm này không chỉ nằm ở số tiền bị chiếm đoạt mà còn ở quy mô mở rộng, có tính tổ chức cao và phương thức thủ đoạn ngày càng tinh vi”, Thiếu tướng Chử Văn Dũng cho biết.
Theo Cục Thuế, giai đoạn 2021 - 2025, việc hoàn thuế GTGT được Cơ quan Thuế triển khai với quy mô lớn, tổng số tiền hoàn hằng năm dao động khoảng 150 - 162 nghìn tỷ đồng. Số quyết định hoàn thuế có xu hướng giảm dần từ 21.882 quyết định năm 2021 xuống còn 17.727 quyết định năm 2025, tuy nhiên quy mô tiền hoàn vẫn duy trì ở mức cao, phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất khẩu và đầu tư tiếp tục được hỗ trợ kịp thời.
“Việc hoàn thuế nhanh chóng giúp doanh nghiệp sớm có vốn để tái tạo sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu và đầu tư. Tuy nhiên, song song với việc hỗ trợ là yêu cầu về sự quản lý chặt chẽ để ngăn chặn các kẽ hở bị lợi dụng. Sự phối hợp giữa hai lực lượng đã mang lại những kết quả tích cực trong việc xác minh, điều tra, truy tố và xét xử các vụ án trốn thuế, gian lận hóa đơn”, Phó Cục trưởng Cục Thuế, ông Mai Sơn nhấn mạnh.
Chia sẻ cụ thể vấn đề này, đại diện Ban Nghiệp vụ thuế cho biết, những năm gần đây, số lượng doanh nghiệp gia nhập và rời bỏ thị trường gia tăng nhanh, trong đó xuất hiện tình trạng một bộ phận doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý mà “bỏ địa chỉ kinh doanh”, dẫn đến việc vẫn tồn tại trên hệ thống quản lý thuế nhưng không còn hoạt động thực tế.
Cơ quan Thuế đã xây dựng bộ tiêu chí để nhận diện những doanh nghiệp “ma”.
“Hiện tượng này ngày càng phổ biến, tập trung ở các lĩnh vực có tần suất giao dịch cao và tại các địa bàn kinh tế trọng điểm; các doanh nghiệp thường có vòng đời hoạt động ngắn, phát sinh giao dịch trong thời gian ngắn rồi nhanh chóng “biến mất”, gây khó khăn cho quản lý và tiềm ẩn rủi ro đối với NSNN. Thực tiễn cho thấy tình trạng này có liên quan chặt chẽ đến các hành vi gian lận thuế, đặc biệt gian lận hoàn thuế GTGT do đó, việc nhận diện sớm nhóm doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa và kiểm soát rủi ro”, đại diện Cục Thuế cho biết.
Theo Ban Nghiệp vụ thuế, tình trạng gian lận hoàn thuế thông qua các doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký đã gây thất thu NSNN: đồng thời làm suy giảm hiệu quả kiểm tra, hậu kiểm do cơ quan Thuế không thể xác minh đối tượng. Các doanh nghiệp này còn là mắt xích trong chuỗi hóa đơn rủi ro, làm lan truyền gian lận sang các doanh nghiệp khác, qua đó làm giảm tính minh bạch và tạo môi trường cạnh tranh không lành mạnh.
Gỡ vướng cơ chế, đẩy mạnh quản lý dựa trên cơ sở dữ liệu số
Giai đoạn 2023 - 2025, số tiền hoàn thuế duy trì ở mức cao góp phần hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.
Thực tiễn công tác hoàn thuế GTGT thời gian qua cho thấy, yêu cầu đặt ra không chỉ là giải quyết hoàn thuế nhanh chóng, đúng quy định để hỗ trợ doanh nghiệp mà còn phải bảo đảm kiểm soát chặt chẽ các rủi ro phát sinh trong quá trình quản lý.
Một số chuyên gia cho biết, một trong những vướng mắc còn tồn tại là sự thiếu đồng bộ trong một số quy định pháp luật và những hạn chế trong cơ chế phối hợp chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành. Đặc biệt, năng lực ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) để phân tích, cảnh báo rủi ro vẫn còn những khoảng cách nhất định so với sự tinh vi của tội phạm.
Để giải quyết vấn đề này, ngành Thuế đang tích cực bổ sung, sửa đổi các chính sách pháp luật về hoàn thuế GTGT và quản lý hoá đơn theo hướng đồng bộ, minh bạch, nhưng đảm bảo tính chặt chẽ, không tạo kẽ hở. Cơ quan Thuế sẽ đẩy mạnh quản lý dựa trên cơ sở dữ liệu số để kiểm soát dòng tiền và hóa đơn hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan Thuế, Hải quan, Ngân hàng, Công an, Viện kiểm sát và Toà án trong việc chia sẻ thông tin, xác minh điều tra và xử lý vi phạm.
Để tránh việc doanh nghiệp trục lợi trong hoàn thuế GTGT, đại diện Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất, cần sửa đổi các quy định về thành lập doanh nghiệp theo hướng chặt chẽ hơn và trách nhiệm kiểm tra thường xuyên của cơ quan chức năng trong việc hậu kiểm về tính chính xác, thực tế đối với thông tin khai báo, điều kiện kinh doanh ngành nghề đặc thù khi thành lập doanh nghiệp đã được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp.
Ông Nguyễn Toàn Thắng, Trưởng Thuế tỉnh Đồng Nai cho biết, giai đoạn 2022 - 2025, công tác phối hợp giữa cơ quan Thuế và Công an tỉnh Đồng Nai đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Cơ quan Thuế đã chuyển hơn 10.585 trường hợp có dấu hiệu rủi ro để phối hợp xác minh; riêng năm 2025 là 2.107 trường hợp.
Để ngăn chặn triệt để vấn nạn gian lận hóa đơn, ông Nguyễn Toàn Thắng đề xuất, cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp lý về hóa đơn điện tử; tăng cường ứng dụng AI và Big Data trong phân tích rủi ro; mở rộng kết nối dữ liệu liên ngành giữa cơ quan Thuế - Công an - Ngân hàng - Hải quan - Đăng ký kinh doanh. “Việc nhận diện người nộp thuế có dấu hiệu sử dụng hóa đơn không hợp pháp và sử dụng không hợp pháp hóa đơn để kê khai thuế là yêu cầu cấp thiết trong quản lý thuế hiện đại nhằm cảnh báo sớm các rủi ro pháp lý, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa các hành vi vi phạm về hóa đơn. Thực tiễn tại Thuế tỉnh Đồng Nai cho thấy, việc kết hợp giữa quản lý rủi ro và phân tích chuỗi giao dịch đã góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý vi phạm”, ông Nguyễn Toàn Thắng chia sẻ.
Trong thời gian tới, cùng với việc hoàn thiện cơ chế chính sách và quy trình nghiệp vụ, ngành Thuế sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng công tác quản lý rủi ro, siết chặt kỷ cương trong sử dụng hóa đơn,;đồng thời bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu tạo thuận lợi cho người nộp thuế với yêu cầu bảo vệ an toàn NSNN, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh và bền vững.
Nhận diện một số nhóm rủi ro, gian lận chủ yếu:
Thứ nhất, hành vi thành lập và sử dụng chuỗi doanh nghiệp trung gian (các F) nhằm mua bán hóa đơn, hợp thức hóa đầu vào, nâng khống giá trị hàng hóa xuất khẩu để chiếm đoạt tiền hoàn thuế và giả mạo hồ sơ vay ngân hàng.
Thứ hai, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa mua từ các đại lý rồi thực hiện xuất khẩu, qua phân tích dữ liệu và phối hợp với các cơ quan chức năng (Hải quan, ngân hàng, đại lý bán hàng …), Thuế TP Hồ Chí Minh phát hiện các dấu hiệu rủi ro như hàng hóa đã được kích hoạt bảo hành tại Việt Nam trước thời điểm xuất khẩu; thông tin sử dụng ban đầu không phù hợp với quốc gia nhập khẩu; khách hàng nước ngoài không xác minh được.
Thứ ba, các gian lận liên quan doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa nhưng hồ sơ không phản ánh đúng thực tế giao dịch, có dấu hiệu quay vòng hàng hóa hoặc sử dụng doanh nghiệp trung gian để hợp thức hóa chứng từ.
Thứ tư, đối với một số doanh nghiệp gia công, xuất khẩu hàng hóa phát sinh hành vi hợp thức hóa chi phí đầu vào thông qua việc sử dụng hóa đơn không hợp pháp các khoản chi phí như nhân công, gia công, vận chuyển … trong khi các đơn vị cung cấp dịch vụ không có đủ điều kiện hoạt động thực tế, không kê khai nghĩa vụ thuế.
Thứ năm, rủi ro liên quan đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang một số thị trường có mức độ minh bạch thấp (các nước châu phi), khó xác minh thông tin đối tác nước ngoài, phát sinh các giao dịch có dấu hiệu bất thường về dòng tiền, tiềm ẩn nguy cơ gian lận, chuyển tiền bất hợp pháp và trục lợi tiền hoàn thuế.
Thứ sáu, rủi ro đối với một số doanh nghiệp kê khai hoạt động xuất khẩu qua biên giới đất liền nhưng qua xác minh, khách hàng nước ngoài không tồn tại hoặc không phát sinh giao dịch mua bán với doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ bảy, rủi ro liên quan đến việc giả mạo xuất xứ hàng hóa và tên sản phẩm ở khâu nhập khẩu, xuất khẩu, sau đó hợp thức hóa hồ sơ đầu vào để trục lợi tiền hoàn thuế.