Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về kỳ vọng Hội chợ Mùa Xuân 2026 sẽ góp phần quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp may trong nước, trong bối cảnh xuất khẩu đã rất thành công còn thị trường nội địa cũng đầy tiềm năng?
Với những gian hàng tham gia Hội chợ Mùa Xuân năm nay, chúng tôi rất kỳ vọng thông qua sự kiện này, sản phẩm của ngành dệt may sẽ được khách hàng trong nước biết đến nhiều hơn. Ngành may Việt Nam không chỉ tập trung xuất khẩu, mà đã có chiến lược “đi bằng hai chân” từ lâu.
Hiện nay, khoảng 85% năng lực sản xuất của ngành dành cho xuất khẩu. Tuy nhiên, với 100 triệu dân, thị trường trong nước là một thị trường rất tiềm năng. Đời sống và thu nhập của người dân Việt Nam đã tăng lên đáng kể, vì vậy đây là thị trường mà ngành dệt may cần tập trung khai thác.
Thông qua Hội chợ Mùa Xuân 2026, chúng tôi kỳ vọng sẽ có nhiều khách hàng đến tham quan, tìm hiểu và nhận thấy rằng sản phẩm dệt may Việt Nam không chỉ để xuất khẩu mà hoàn toàn có thể phục vụ tốt thị trường nội địa, đặc biệt ở các phân khúc từ trung đến cao cấp. Ngành may Việt Nam có thể đáp ứng rất tốt các yêu cầu này.
Hội chợ diễn ra vào dịp trước Tết Nguyên Đán, trong không khí phấn khởi sau những sự kiện quan trọng của đất nước, càng tạo thêm động lực để người dân tiếp cận và tin tưởng vào những sản phẩm do doanh nghiệp trong nước sản xuất, xứng tầm với sự phát triển và kỳ vọng chung.
Ông có đề xuất gì về chiến lược tăng trưởng bền vững cho ngành dệt may xuất khẩu, thưa ông?
Ngành dệt may dành trên 85% năng lực sản xuất cho xuất khẩu. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 46 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 5,6% trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Trong đó, thời trang đạt 36,6 tỷ USD; vải khoảng 3 tỷ USD; sợi 4,5 tỷ USD; phụ liệu 1,5 tỷ USD; vải công nghiệp khoảng 750 triệu USD.
Ngay từ đầu tháng 4/2025, khi thuế đối ứng được công bố, doanh nghiệp rất lo lắng. Tuy nhiên, nhờ sự hỗ trợ của Nhà nước và sự phối hợp chặt chẽ với các nhãn hàng, doanh nghiệp đã tranh thủ thời gian sản xuất, giao hàng trong lúc chờ đàm phán. Kết quả là xuất khẩu sang Mỹ vẫn tăng trưởng trên 11%, một kết quả rất đáng ghi nhận.
Từ tháng 8/2025, mức thuế đối ứng 20% đối với hàng hóa Việt Nam được áp dụng, và nếu bị coi là hàng truyền tải thì mức thuế lên tới 40%. Đây là thách thức lớn, song thuế được phân bổ trong toàn bộ chuỗi cung ứng – từ nhà sản xuất, nhãn hàng, nhà phân phối đến người tiêu dùng – chứ không chỉ riêng doanh nghiệp sản xuất chịu toàn bộ. So với một số đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Ấn Độ hay Mexico, mức thuế của Việt Nam không cao hơn nhiều, thậm chí có điểm còn thuận lợi hơn. Vì vậy, doanh nghiệp vẫn có thể trụ vững dù chịu sức ép lớn.
Để phát triển bền vững từ năm 2026 trở đi, theo tôi không có con đường nào khác ngoài tập trung vào “chuyển đổi kép”: chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Chuyển đổi số bao gồm đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, cải tiến quản lý, xây dựng nhà máy thông minh, ứng dụng AI, robot… nhằm nâng cao năng suất lao động và tăng khả năng cạnh tranh.
Chuyển đổi xanh là yếu tố quan trọng để phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường như EU. Nếu không thay đổi, doanh nghiệp sẽ khó thâm nhập thị trường.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng ngành dệt may sử dụng lực lượng lao động rất lớn, chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi, với trình độ không cao. Khi đẩy mạnh chuyển đổi số, năng suất tăng lên đồng nghĩa với việc có thể giảm nhu cầu lao động, dẫn đến một bộ phận người lao động bị ảnh hưởng. Đây là vấn đề mang tính toàn cục của nền kinh tế.
Do đó, bên cạnh chiến lược nâng cao năng suất và sức cạnh tranh, Nhà nước cũng cần có chính sách phù hợp để đào tạo lại, bố trí và sử dụng lực lượng lao động này ở các ngành nghề khác như du lịch hoặc các lĩnh vực phù hợp với trình độ của họ. Nếu không giải quyết tốt bài toán lao động, quá trình chuyển đổi sẽ đặt ra nhiều thách thức xã hội.
Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng xuất khẩu, khai thác thị trường nội địa, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đảm bảo an sinh lao động, ngành dệt may Việt Nam mới có thể phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Xin trân trọng cảm ơn ông!