Đừng để chuyện cân nặng trở thành áp lực của trẻ
Mới đây, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh cùng Novo Nordisk Việt Nam ký Biên bản ghi nhớ triển khai chương trình Thành phố vì sức khỏe thế hệ tương lai (Cities for Better Health) giai đoạn 2026 - 2029. Sự kiện đánh dấu TP Hồ Chí Minh trở thành thành phố đầu tiên của Việt Nam và là thành phố thứ 57 trên toàn cầu tham gia mạng lưới Cities for Better Health nhằm thúc đẩy phòng ngừa bệnh tật, nâng cao hiểu biết sức khỏe và xây dựng các cộng đồng khỏe mạnh hơn.
Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh cùng Novo Nordisk Việt Nam ký Biên bản ghi nhớ triển khai chương trình Thành phố vì sức khỏe thế hệ tương lai giai đoạn 2026 - 2029.
Theo Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, tỷ lệ suy dinh dưỡng của người dân thành phố đã giảm đáng kể nhưng thừa cân, béo phì lại ở mức cao hơn tỷ lệ chung của cả nước. Trong lứa tuổi học sinh, 20,4% học sinh thừa cân và 14,4% béo phì, trong đó nhóm tiểu học có tỷ lệ cao nhất.
Dữ liệu khám sức khỏe học sinh năm học 2025 - 2026 của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Hồ Chí Minh (HCDC) cho thấy ở riêng bậc tiểu học, trong 896.126 học sinh được khám, tỷ lệ thừa cân là 20,4% và béo phì 18,3%. Ở bậc trung học cơ sở, trong 703.233 học sinh được khám, tỷ lệ tương ứng là 21,5% và 12,1%.
PGS.TS. BS Huỳnh Thị Vũ Quỳnh, Trưởng khoa Thận - Nội tiết, Bệnh viện Nhi Đồng 2, đồng thời là Phó Trưởng Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, cho biết béo phì là tình trạng tích tụ bất thường, quá mức khối mỡ và gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Hội Y khoa Hoa Kỳ cũng nhìn nhận, béo phì là một tình trạng bệnh lý có nhiều khía cạnh sinh lý bệnh, cần các biện pháp can thiệp khác nhau trong điều trị và phòng ngừa.
Theo các số liệu được PGS.TS. BS Huỳnh Thị Vũ Quỳnh dẫn lại, trong giai đoạn 2010 - 2025, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ gia tăng thừa cân, béo phì ở trẻ 5 - 19 tuổi. Điều này cho thấy, câu chuyện không còn nằm ở vài trường hợp riêng lẻ mà liên quan đến những thay đổi trong môi trường sống, chế độ ăn và mức độ vận động của trẻ.
PGS.TS. BS Huỳnh Thị Vũ Quỳnh, Trưởng khoa Thận - Nội tiết, Bệnh viện Nhi Đồng 2, đồng thời là Phó Trưởng Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh chia sẻ tại sự kiện.
Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cũng chỉ ra một thực tế khá gần với đời sống đô thị, đó là người dân dễ tiếp cận thức ăn nhanh, thực phẩm nhiều năng lượng, khẩu phần thiếu rau xanh, trong khi lối sống ít vận động ngày càng phổ biến. Vì vậy, yêu cầu một đứa trẻ tự điều chỉnh cân nặng sẽ khó đạt kết quả nếu bữa ăn ở nhà, thực phẩm trong trường và thói quen sinh hoạt của cả gia đình không cùng thay đổi.
Bà Sule Erdim Ersoy, Tổng Giám đốc Novo Nordisk Việt Nam, nhìn nhận béo phì là bệnh mạn tính, phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như sinh học, di truyền, môi trường và hành vi. Việc quản lý vì thế cần được hiểu theo nghĩa rộng, từ dinh dưỡng, hoạt động thể chất, tư vấn thay đổi hành vi đến điều trị bằng thuốc hoặc can thiệp ngoại khoa khi có chỉ định phù hợp.
Một vấn đề khác được bà Sule Erdim Ersoy lưu ý là cách cộng đồng nhìn nhận người béo phì. Nâng cao hiểu biết về bệnh không chỉ phục vụ phòng ngừa mà còn giúp giảm kỳ thị để người có vấn đề về cân nặng và gia đình chủ động trao đổi với nhân viên y tế, tìm kiếm sự hỗ trợ sớm thay vì né tránh.
Bà Lina Gandløse Hansen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam, cho rằng béo phì trẻ em liên quan không chỉ đến sức khỏe của trẻ hôm nay mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe sau này, gia đình và xã hội. Theo bà, vấn đề này không thể giải quyết bằng một biện pháp hay một cơ quan riêng lẻ mà cần kết nối ngành y tế, nhà trường, chuyên gia, cộng đồng và gia đình. Giải pháp cũng phải phù hợp điều kiện địa phương để có thể duy trì lâu dài.
Thực tế, việc điều chỉnh môi trường học đường đã được TP Hồ Chí Minh triển khai ở một số nội dung. Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh đã yêu cầu các cơ sở giáo dục tăng cường quản lý bữa ăn học đường, thực hiện hướng dẫn dinh dưỡng của Bộ Y tế, bảo đảm an toàn thực phẩm và phối hợp với cha mẹ học sinh.
Bà Sule Erdim Ersoy, Tổng Giám đốc Novo Nordisk Việt Nam, nhìn nhận béo phì là bệnh mạn tính, phức tạp.
Nhưng bữa ăn mới chỉ là một phần. Khoảng thời gian trẻ được vận động, cách tổ chức giờ ra chơi, hoạt động thể dục, thói quen ăn uống khi về nhà hay sự đồng hành của cha mẹ đều có thể tác động đến quá trình hình thành lối sống. Vì vậy, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh xác định mô hình phối hợp “kiềng ba chân” giữa y tế - nhà trường - gia đình là nền tảng để phòng ngừa thừa cân, béo phì ở trẻ.
Biết trẻ cần gì trước khi tìm cách can thiệp
Một bài học được nhắc đến từ kinh nghiệm triển khai Cities for Better Health tại Thái Lan là trẻ có thể tiếp thu kiến thức khá nhanh, nhưng thay đổi hành vi cần nhiều thời gian hơn.
Bà Nisanart Yeamkhong, Quản lý Chương trình Cities for Better Health Thái Lan, chia sẻ chương trình giáo dục phòng ngừa béo phì đã được triển khai thí điểm tại trường công lập. Học sinh được học về lựa chọn thực phẩm, năng lượng trong đồ uống, vận động, đồng thời sử dụng nhật ký sức khỏe để theo dõi thói quen hằng ngày.
Sau hai tháng, điểm kiến thức sức khỏe trung bình của nhóm học sinh được can thiệp tăng từ 4,89 lên 7,18 điểm, tương đương khoảng 47%; nhóm đối chứng tăng khoảng 14%. Trong khi đó, mức cải thiện về hành vi của nhóm được can thiệp chỉ khoảng 5%.
Khoảng cách giữa “biết” và “làm được” là điều đáng chú ý. Một học sinh có thể biết nước ngọt chứa nhiều đường hay vận động tốt cho sức khỏe, nhưng lựa chọn của trẻ còn phụ thuộc món ăn đang được bán, bữa cơm gia đình, không gian vận động và thói quen của những người sống cùng. Kinh nghiệm tại Thái Lan vì thế không chỉ dừng ở bài giảng mà còn mở rộng sang cải thiện bếp ăn, quản lý bữa ăn và tạo thêm không gian hoạt động thể chất.
Giảm thừa cân, béo phì cần bắt đầu từ trường học. Ảnh minh hoạ
Để tránh triển khai theo cách đồng loạt nhưng khó đo hiệu quả, Thạc sĩ Huỳnh Thị Chi Lan, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh, đề xuất trước khi can thiệp cần xây dựng dữ liệu ban đầu rõ ràng. Nội dung đánh giá gồm tiêu chí lựa chọn trường và địa bàn, số lượng học sinh, nhóm đối tượng liên quan, bộ câu hỏi, chỉ số đo lường, quy trình thu thập và quản trị dữ liệu.
Việc phân định trách nhiệm giữa Sở Y tế TP Hồ Chí Minh, Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh, nhà trường, cơ sở y tế và đơn vị thực hiện cũng được đặt ra từ đầu. Cách làm này nhằm trả lời những câu hỏi cụ thể: Trẻ đang gặp vấn đề gì, yếu tố nào phổ biến tại từng nhóm trường, giải pháp nào phù hợp và sau một thời gian thì thay đổi ra sao.
Từ thực trạng hiện nay, ngành y tế Thành phố đặt trọng tâm trước hết vào sàng lọc và phát hiện sớm trẻ thừa cân, béo phì tại trường học và cơ sở y tế, từ đó theo dõi, tư vấn dinh dưỡng và can thiệp khi cần thiết. Nhóm giải pháp thứ hai hướng đến môi trường sống lành mạnh hơn, với thực đơn cân bằng, căn tin phù hợp và tăng vận động thể lực. Công nghệ và dữ liệu số cũng được xem là công cụ hỗ trợ quản lý sức khỏe học đường, truyền thông và thay đổi hành vi.
Khuôn khổ hợp tác giai đoạn 2026 - 2029 sẽ mở thêm cơ hội để TP Hồ Chí Minh kết nối chuyên môn y tế, hệ thống trường học, nghiên cứu khoa học, nguồn lực doanh nghiệp và kinh nghiệm từ các thành phố khác. Bà Lina Gandløse Hansen cho rằng, quan hệ hợp tác này còn mang ý nghĩa kết nối kinh nghiệm của Việt Nam và Đan Mạch trong năm hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Bà kỳ vọng sự phối hợp giữa các bên có thể được chuyển thành những hoạt động cụ thể cho trẻ em, gia đình và cộng đồng TP Hồ Chí Minh.
Bà Lina Gandløse Hansen, Đại sứ Đan Mạch tại Việt Nam kỳ vọng việc ký kết ghi nhớ triển khai chương trình Thành phố vì sức khỏe thế hệ tương lai sẽ thiết lập tốt hơn mối quan hệ ngoại giao của hai nước.
Với bà Sule Erdim Ersoy, giá trị của hợp tác công - tư nằm ở khả năng đưa cách tiếp cận dựa trên khoa học vào thực tế và tạo ra tác động xã hội. Còn với mỗi gia đình, kết quả cuối cùng có thể được nhìn thấy từ những điều giản dị hơn, một bữa ăn hợp lý hơn, trẻ có thêm thời gian chạy nhảy, cha mẹ biết khi nào cần đưa con đi tư vấn và nhà trường có đủ thông tin để hỗ trợ sớm.
Khi những thay đổi ấy diễn ra đều đặn ở cả trường học và gia đình, phòng ngừa béo phì mới trở thành một phần của đời sống hằng ngày, thay vì chỉ xuất hiện trong những đợt truyền thông ngắn hạn.