Bảo vệ ‘mã gen’ làng nghề và kinh tế di sản Việt Nam

Dưới tư duy công nghiệp văn hóa, di sản văn hóa không chỉ là bảo vật để lưu giữ trong bảo tàng, mà là “vốn tri thức nội sinh”, là nền tảng tạo nên sức cạnh tranh cốt lõi cho các làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, khi Trí tuệ Nhân tạo (AI) và các thuật toán số đang dần chi phối dòng chảy thương mại và tri thức toàn cầu, nếu tri thức làng nghề không được số hóa, sản phẩm Việt sẽ nguy cơ bị xóa và sửa căn cước trên không gian mạng.

Chú thích ảnh
Ý tưởng dự án bắt đầu từ một chuyến viếng thăm đền Nội thờ Đức Lạc Long Quân tại làng Bình Đà, Hà Nội. Ảnh: CT

Dự án “Sử làng sử nước” được đạo diễn Trương Công Tú ấp ủ nhiều năm từ khi làm việc tại Đài Truyền hình Việt Nam, với mong muốn số hóa di sản dưới góc độ phát triển kinh tế làng nghề, công nghiệp sáng tạo và bảo vệ thương hiệu quốc gia. Năm 2024, quỹ VinIF đã đồng hành cùng Công ty VietPictures triển khai dự án dưới sự chỉ đạo của anh. Nhân dịp dự án vừa hoàn thành giai đoạn 1 các công việc ghi hình, lưu trữ tư liệu tại 52 ngôi làng Việt, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Đạo diễn, Nhà nghiên cứu văn hóa ứng dụng Trương Công Tú.

Thưa đạo diễn Trương Công Tú, dưới góc độ kinh tế, mỗi làng nghề truyền thống Việt Nam là một "trung tâm sản xuất và sáng tạo" có lịch sử hàng trăm năm. Được biết, cảm hứng khởi sinh dự án "Sử làng sử nước" bắt đầu từ một câu chuyện tại làng nghề làm pháo Bình Đà. Ông có thể chia sẻ cụ thể về điều này?

Ý tưởng dự án đúng là bắt đầu từ một chuyến viếng thăm đền Nội thờ Đức Lạc Long Quân tại làng Bình Đà, Hà Nội. Làng Bình Đà từng được mệnh danh là "thủ phủ pháo" của cả nước.

Hôm đó, cụ từ giữ đền đã kể cho tôi nghe về "Pháo diễn tích", một tuyệt kỹ chế tác pháo, một đỉnh cao kỹ nghệ dân gian. Tích xưa kể rằng khi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay, hai người dặn nhau nếu có biến cố thì dùng hiệu lệnh gọi nhau. Trong lễ hội làng, người Bình Đà tái hiện lời hẹn ước ấy bằng một trận pháo vô cùng tinh xảo.

Một quả pháo châm ngòi trên bờ, kéo dây cháy chìm xuống tận lòng hồ sen tượng trưng cho lời kêu cứu của Âu Cơ gửi xuống nước cho Lạc Long Quân. Khi bọt khí bùng lên dưới mặt nước, dân làng biết tín hiệu đã chạm tới đáy hồ, Lạc Long Quân đã nhận được tin. Quả pháo thủy nổ đẩy ngòi cháy ngược lên bờ, lao dọc thân cây pháo chính rồi vút lên đỉnh tượng trưng cho hiệu lệnh của Lạc Long Quân. Tại 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc trên đỉnh cây pháo, 16 quả pháo nhỏ đồng loạt nổ vang, gọi là "Pháo Nhất thanh".

16 tiếng nổ đồng thời đó đại diện cho 16 bộ lạc Văn Lang thời đại Hùng Vương đồng thanh hưởng ứng hiệu lệnh của Quốc Tổ, đồng tâm giải quyết tai biến cho Mẹ Âu Cơ.

"Pháo diễn tích" Bình Đà chính là một "sản phẩm công nghiệp sáng tạo" hoàn chỉnh của người xưa: Họ kết hợp kỹ thuật chế tác ngòi nổ dưới nước (R&D), tích hợp nghệ thuật diễn xướng dân gian (Marketing/Branding) và gửi gắm thông điệp về lòng đoàn kết dân tộc (Giá trị cốt lõi). Đó là đỉnh cao của tri thức làng nghề!

Khi nghề pháo dừng lại, tục Pháo diễn tích lụi tàn. Kỹ thuật tính toán thời gian cháy chìm dưới nước và kích nổ đồng loạt 16 ngòi pháo giờ chỉ còn nằm trong trí nhớ của vài cụ già. Nếu không được ghi nhận và số hóa, cái "know-how" bí kíp kỹ thuật và câu chuyện thương hiệu di sản ấy sẽ vĩnh viễn mất đi.

Bởi vậy, chúng tôi đã triển khai dự án ở 52 ngôi làng tiêu biểu ở Việt Nam, tập trung đến những ngôi làng được đánh giá nguy cấp vì nhiều “know-how” có thể mất bất cứ lúc nào, những ngôi làng có những sản phẩm Ocop tiềm năng đi ra thế giới.

Lâu nay, lịch sử thường được nhìn nhận dưới góc độ các sự kiện chính trị, triều đại (Sử Nước). Vậy dưới lăng kính kinh tế di sản, "Sử Làng" mang lại giá trị gia tăng nào khác biệt?

Sử nước cho chúng ta một bộ khung xương lịch sử dân tộc. Nhưng chính Sử làng, với các thần tích, phong thổ, nghi lễ và bí truyền làng nghề, mới đắp lên bộ khung đó da thịt, tâm hồn và sức sống.

Chính sử ghi chép các sự kiện quan phương chính thống. Nhưng Sử làng ghi chép lại cách người dân ở từng vùng đất sáng tạo ra sinh kế: làng này dệt vải, làng kia đúc đồng, làng nọ làm mắm hay dệt lưới. Sử làng chứa đựng "Mã gen sản xuất" và "Bản sắc bản địa" của cộng đồng.

Đi qua mỗi làng quê, vị Thành hoàng làng hay vị Tổ nghề không chỉ là biểu tượng tâm linh, mà là Thương hiệu di sản của làng đó. Một thiền sư như Nguyễn Minh Không chẳng hạn, ở làng này ngài là tổ nghề đúc đồng, làng kia lại tổ nghề làm thuốc… Ngay phong tục múa rối chầu Thánh Nguyễn Minh Không chúng tôi cũng đã ghi nhận được ở chùa Cổ Lễ (Nam Định cũ), chùa Keo (Thái Bình cũ)… Lễ hội chùa Keo có đám rước rất lớn, miêu tả lại đoàn rước của vua mời thiền sư vào cung chữa bệnh.

Chính sự đa dạng dân gian này tạo ra hàng ngàn "tiểu không gian văn hóa" độc bản. Trong nền kinh tế sáng tạo hiện đại, đây chính là kho nguyên liệu thô vô giá để phát triển du lịch di sản, thiết kế sản phẩm lưu niệm, xây dựng thương hiệu nông sản địa phương và sản xuất các ấn phẩm truyền thông.

Ông thường nhắc đến cụm từ "Số hóa sử làng để thuật toán không nuốt chửng ký ức". Dưới góc độ thương mại số, nguy cơ này ảnh hưởng thế nào đến các sản phẩm và làng nghề Việt Nam, thưa ông?

Đây là vấn đề sống còn của kinh tế số Việt Nam trong 5 - 10 năm tới.

Các mô hình AI toàn cầu học và phân phối thông tin dựa trên dữ liệu đã được số hóa. Hiện nay, 90% dữ liệu huấn luyện AI đến từ phương Tây và các quốc gia phát triển, nơi họ đã gắn nhãn dữ liệu cho từng di sản của mình.

Chú thích ảnh
Đạo diễn Trướng Công Tú: Nếu tri thức làng nghề không được số hóa, sản phẩm Việt sẽ nguy cơ bị xóa và sửa căn cước trên không gian mạng. Ảnh: SH

Nếu tri thức làng nghề và sử làng Việt Nam chỉ nằm trong đầu các cụ già hay trong các cuốn sắc phong cất trang trọng trong đình làng, đối với thuật toán AI, nó nghiễm nhiên không tồn tại.

Tôi có thể kể ra 2 thực tế nhãn tiền trên thị trường số.

Đầu tiên là nguy cơ bị chiếm đoạt thương hiệu văn hóa. Khi nhà sản xuất Việt Nam muốn bán một sản phẩm thủ công mỹ nghệ hay trà cổ thụ ra thế giới thông qua thương mại điện tử, nếu AI không có dữ liệu gốc về "sử làng", nó sẽ tự động gán sản phẩm đó với các phong cách của Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Thái Lan chẳng hạn. Sản phẩm Việt bị "mất căn cước" ngay trên kệ hàng số.

Vấn đề thứ 2 là mất giá trị gia tăng. Người tiêu dùng toàn cầu mua sản phẩm vì "câu chuyện". Nếu câu chuyện pháo Bình Đà hay bí quyết gốm cổ không được mã hóa thành dữ liệu chuẩn để AI hiểu và lan tỏa, sản phẩm làng nghề Việt sẽ mãi bị đè giá ở phân khúc thô, gia công giá rẻ.

Câu chuyện gạo ST25 bị doanh nghiệp nước ngoài nộp đơn xin bảo hộ thương hiệu, tuy họ không thành công nhưng cũng là một lời cảnh báo. Nếu không số hóa sử làng ngay hôm nay, chúng ta đang bỏ trống không gian tâm thức và thương hiệu sản phẩm của con cháu mình cho các thuật toán ngoại quốc.

Để giải quyết bài toán này, dự án "Sử làng sử nước" do VietPictures và Quỹ VinIF thực hiện sẽ tạo ra những "tài sản số" cụ thể nào cho cộng đồng và các làng nghề, thưa ông?

Chúng tôi tạo ra hệ sinh thái dữ liệu ứng dụng. Trong hơn 1 năm qua, chúng tôi đã hoàn thành công việc với 52 ngôi làng Việt, tương đương mỗi tuần một ngôi làng.

Dự án có 3 bước. Bước 1 là ưu tiên thu âm, ghi hình, mã hóa tri thức truyền miệng của các cao niên về nghề cổ, quy trình sản xuất truyền thống và thần tích làng. Đây là công việc rất cấp bách vì những bậc cao niên ngày một ít đi. Đây là công việc đã hoàn thành. Tôi cho rằng dự án đã làm tốt phần việc lưu trữ này.

Bước 2 là xây dựng các kênh truyền thông digital, dần dần đưa các thông tin thô mà mình có đã được xử lý lên. Đây chính là việc "nạp" dữ liệu sạch về sản phẩm và văn hóa Việt vào hệ thống AI toàn cầu, xây dựng hàng rào bảo vệ chủ quyền thương hiệu.

Bước 3 là chuyển hóa dữ liệu thành các bản đồ di sản số, video thương hiệu, câu chuyện truyền thông trực quan trao trả lại cho chính dân làng. Chúng tôi sẽ đồng hành cùng các làng có các sản phẩm Ocop. Mỗi sản phẩm gắn sao mới chỉ là bắt đầu. Phía sau ngôi sao phải là câu chuyện của đất, của người, của văn hóa cộng đồng.

Hiện nay VietPictures đã bắt đầu đồng hành cùng các nghệ nhân làng nghề làm trầm Vạn Giã ở Khánh Hòa để kể câu chuyện, nâng tầm những sản phẩm 3 sao, 4 sao Ocop vốn đã có chất lượng rất tuyệt vời.

Khi người dân Vạn Giã, Bình Đà hay bất kỳ làng nghề nào sở hữu một "hồ sơ di sản số" sắc nét, họ có thể dùng nó để làm truyền thông du lịch, đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý, nâng tầm giá trị sản phẩm OCOP và thu hút du khách quốc tế.

Từ thực tiễn triển khai dự án, ông có đề xuất gì cho các cơ quan quản lý công thương, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp làng nghề?

Thứ nhất, cần coi Di sản Làng nghề là Tài sản Kinh tế Số. Đã đến lúc các làng nghề không chỉ bán "sản phẩm vật lý" như vật dụng, đồ thủ công, mà phải bán "hàm lượng văn hóa và dữ liệu số" đi kèm. Một bình gốm có mã QR truy xuất ngược về câu chuyện Thành hoàng làng hay bí quyết men cổ sẽ có giá trị cao gấp nhiều lần một bình gốm vô danh.

Chú thích ảnh
Trong nền kinh tế sáng tạo hiện đại, sự đa dạng dân gian là kho nguyên liệu thô vô giá để phát triển du lịch di sản. Ảnh: SH

Thứ hai, doanh nghiệp địa phương phải đồng hành cùng người già. Đừng đợi đến khi các cụ từ, thợ cổ qua đời mới đi tìm câu chuyện. Doanh nghiệp cần phối hợp với giới chuyên môn số hóa ngay tập quán sản xuất và huyền thoại làng nghề để đưa vào chiến lược Branding.

Thứ ba, kích hoạt sức sáng tạo của người trẻ bản địa. Hãy trao cho thanh niên làng nghề công cụ số để họ trở thành những "sứ giả thương mại di sản". Khi người trẻ tự hào về câu chuyện "Pháo Nhất thanh" hay kỹ nghệ quê mình, họ sẽ biết cách bán sản phẩm ra thế giới qua TikTok, Amazon bằng chính sự kiêu hãnh đó.

Khi tiếng nổ "Pháo Nhất thanh" của làng Bình Đà hay tri thức của hàng ngàn làng nghề được sống khỏe mạnh trên không gian số, sản phẩm Việt Nam không chỉ đứng vững trên thị trường toàn cầu bằng giá thành, mà bằng sức mạnh chiều sâu của một dân tộc có căn cước.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Minh Tuệ/Báo Tin tức và Dân tộc
Số hóa di sản, mở rộng không gian tiếp cận văn hóa
Số hóa di sản, mở rộng không gian tiếp cận văn hóa

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa đang trở thành xu hướng tất yếu.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN