Quang cảnh Hội nghị.
Nội dung này được đặt ra tại cuộc làm việc của Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh với ngành Khoa học và Công nghệ ngày 31/7 về kết quả triển khai Nghị quyết 57 sau hơn một năm và các nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới.
Tháo gỡ điểm nghẽn, tạo động lực phát triển
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái nhấn mạnh, Nghị quyết 57 xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực mới cho tăng trưởng. Vì vậy, các điểm nghẽn về cơ chế, dữ liệu, hạ tầng, nguồn nhân lực và tổ chức thực hiện phải được tập trung tháo gỡ với quyết tâm cao, cách làm quyết liệt, tạo chuyển biến rõ nét trong thời gian tới. Đồng chí yêu cầu Sở Khoa học và Công nghệ phát huy vai trò cơ quan thường trực, phối hợp với các sở, ngành, địa phương rà soát toàn bộ nhiệm vụ, xác định rõ những nội dung còn chậm, còn vướng để tham mưu giải pháp xử lý theo tinh thần "rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ kết quả".
Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh Nguyễn Hồng Thái phát biểu.
Cùng đó, tỉnh ưu tiên hoàn thiện hạ tầng số và hệ thống dữ liệu dùng chung theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống"; đẩy nhanh số hóa hồ sơ, kết nối, liên thông các cơ sở dữ liệu; tập trung triển khai ba bài toán lớn và hai sản phẩm công nghệ chiến lược. Bắc Ninh cũng đẩy mạnh gắn kết hoạt động nghiên cứu khoa học với nhu cầu của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp FDI; thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý, điều hành và phát triển kinh tế - xã hội; tăng tốc giải ngân các nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
Bên cạnh đó, tỉnh tiếp tục nhân rộng các mô hình, giải pháp đã được kiểm chứng hiệu quả; tăng cường phối hợp với các bộ, ngành Trung ương để tháo gỡ khó khăn về cơ chế, kỹ thuật; chuẩn hóa quy trình nội bộ, chuyển mạnh từ xử lý hồ sơ giấy sang môi trường điện tử.
Từng bước khắc phục hạn chế, phát huy kết quả đạt được
Lãnh đạo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh thông tin về kết quả triển khai Nghị quyết 57.
Theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh, sau hơn một năm triển khai Nghị quyết 57, quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn còn một số điểm nghẽn. Cụ thể là cơ chế gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, nhất là khu vực FDI, còn hạn chế. Nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp; kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu chậm được thương mại hóa, chưa tạo chuyển biến rõ nét về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh. Cơ chế đặt hàng nghiên cứu theo kết quả đầu ra, đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp cũng như cơ chế bao tiêu sản phẩm nghiên cứu còn thiếu, làm hạn chế khả năng ứng dụng các sáng kiến, công nghệ vào sản xuất và cơ hội tham gia sâu hơn của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI..
Hạ tầng phục vụ chuyển đổi số cũng còn nhiều bất cập khi hệ thống cơ sở dữ liệu và các nền tảng số dùng chung chưa hoàn thiện; việc số hóa tài liệu lưu trữ, nhất là khối lượng hồ sơ hình thành trước khi sáp nhập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang còn chậm. Kết nối, liên thông dữ liệu giữa Trung ương và địa phương vẫn phát sinh lỗi; dữ liệu tại Trung tâm điều hành thông minh (IOC) còn trùng lặp, thiếu một số dữ liệu quan trọng, ảnh hưởng đến công tác phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định..
Bên cạnh đó, tiến độ giải ngân kinh phí cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ còn chậm; đội ngũ cán bộ chuyên trách chuyển đổi số ở một số cơ quan, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; công tác phối hợp, chế độ báo cáo giữa các cấp còn chồng chéo, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai.
Mặc dù vậy, sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết 57, Bắc Ninh đã đạt nhiều kết quả tích cực. Năm 2025, tỉnh xếp thứ hai cả nước về tỷ lệ hoàn thành đúng hạn các nhiệm vụ Trung ương giao; đã hoàn thành 169/275 nhiệm vụ có thời hạn và bố trí gần 900 tỷ đồng trong năm 2026 cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Hoạt động nghiên cứu khoa học được định hướng gắn với yêu cầu thực tiễn, tập trung vào các sản phẩm chủ lực của địa phương, từng bước ứng dụng AI, Internet vạn vật (IoT), thiết bị bay không người lái và rô-bốt trong sản xuất nông nghiệp, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ. Tỉnh triển khai mới 52 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đạt 208% kế hoạch; tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu sau nghiệm thu đạt gần 74%.
Trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chỉ số đổi mới sáng tạo cấp tỉnh (PII) của Bắc Ninh tăng 5 bậc, xếp thứ 6/34 tỉnh, thành phố; tỷ trọng kinh tế số đạt 46,3% GRDP, đứng đầu cả nước. Tỉnh cũng nằm trong nhóm dẫn đầu về phủ sóng 5G; hoàn thành bệnh án điện tử tại 100% bệnh viện công lập, triển khai học bạ số tại toàn bộ cơ sở giáo dục và thuộc nhóm đầu cả nước về kết nối cơ sở dữ liệu dân cư, đất đai, cung cấp dịch vụ công trên môi trường số.