Đầu tư dài hạn cho nghiên cứu cơ bản xuất sắc để làm chủ công nghệ chiến lược

Bộ Khoa học và Công nghệ vừa phê duyệt Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026 - 2035 (PEBR), với mục tiêu hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh mang tầm quốc tế, tạo nền tảng tri thức cho phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam trong dài hạn.

Theo Quyết định phê duyệt Chương trình, PEBR được xác định là một cấu phần trọng yếu trong hệ sinh thái nghiên cứu chiến lược quốc gia, triển khai đồng bộ với các chương trình phát triển công nghệ chiến lược, mạng lưới chuyên gia Việt Nam toàn cầu và các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đầu tư có trọng tâm cho nghiên cứu nền tảng

Dự thảo nêu rõ quan điểm xuyên suốt của Chương trình là xem nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên là nền tảng tạo ra các đột phá về tri thức và công nghệ, góp phần hình thành năng lực làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.

Chú thích ảnh
Phòng tách ADN Lowcopy tại Trung tâm Giám định ADN. Ảnh tư liệu: TTXVN

Khác với mô hình tài trợ nhiệm vụ đơn lẻ, ngắn hạn trước đây, Chương trình PEBR định hướng chuyển sang đầu tư theo các hướng nghiên cứu trung và dài hạn, ưu tiên cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ nhằm bảo đảm tính liên tục, khả năng tích lũy tri thức và hình thành năng lực nghiên cứu dẫn dắt.

Một điểm đáng chú ý là Chương trình chấp nhận rủi ro khoa học phù hợp với đặc thù nghiên cứu cơ bản, khuyến khích các ý tưởng khoa học mới, có tính đột phá, đồng thời thực hiện quản lý theo kết quả và tác động khoa học, bảo đảm liêm chính khoa học và chuẩn mực học thuật quốc tế.

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, việc triển khai Chương trình sẽ tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng hình thành công nghệ lõi và công nghệ chiến lược như công nghệ lượng tử, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, năng lượng mới, công nghệ bán dẫn và các lĩnh vực trọng điểm khác theo từng thời kỳ.

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là phát triển nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên trở thành cấu phần cốt lõi của hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; nâng cao năng lực nghiên cứu đạt trình độ quốc tế và kiến tạo môi trường nghiên cứu tiên tiến.

Chương trình đặt ra nhiều chỉ tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Trong đó, đến năm 2030 sẽ hình thành khoảng 30 nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, ít nhất 3 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực. Đến năm 2035, con số này tăng lên khoảng 50 nhóm nghiên cứu mạnh, trong đó có ít nhất 10 nhóm đạt trình độ dẫn dắt trong khu vực và có ảnh hưởng học thuật quốc tế rõ nét.

Về chất lượng công bố khoa học, Chương trình hướng tới nâng tỷ lệ công bố trên các tạp chí thuộc nhóm Q1 trong cơ sở dữ liệu Web of Science và các tạp chí thuộc hệ thống Nature Index lên khoảng 1,5 lần vào năm 2030 và khoảng 2 lần vào năm 2035 so với mức trung bình giai đoạn 2021 - 2025 của từng lĩnh vực tương ứng.

Bên cạnh đó, Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 hình thành ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, trong đó tối thiểu 3 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi; đến năm 2035 hình thành thêm ít nhất 10 hướng nghiên cứu mới, tối thiểu 5 hướng có tiềm năng phát triển thành nền tảng công nghệ lõi.

Đáng chú ý, dự thảo cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển đội ngũ nhà khoa học trẻ. Theo đó, đến năm 2030 sẽ hỗ trợ, bồi dưỡng và kết nối ít nhất 500 tiến sĩ, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ và nhà khoa học trẻ trong hệ sinh thái nghiên cứu của Chương trình; đến năm 2035 hỗ trợ ít nhất 1.000 nhà khoa học, trong đó có ít nhất 200 nhà khoa học trẻ có khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu độc lập mang tầm quốc tế.

Đổi mới cơ chế tài trợ và đánh giá

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chương trình đề ra nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp triển khai đồng bộ. Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ triển khai tài trợ theo các định hướng nghiên cứu trung và dài hạn từ 5 - 10 năm, ưu tiên các chuỗi, cụm nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản gắn với phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể.

Chương trình cũng sẽ giao mục tiêu khoa học trung và dài hạn cho các nhóm nghiên cứu mạnh, từng bước triển khai cơ chế cấp kinh phí theo gói gắn với quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và kết quả đầu ra.

Cùng với đó là cơ chế phát hiện, hỗ trợ và phát triển đội ngũ nhà khoa học có năng lực dẫn dắt; tăng cường thu hút chuyên gia quốc tế và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, đào tạo và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh.

Một trong những điểm mới của Chương trình là xây dựng cơ chế đánh giá độc lập thông qua hội đồng khoa học và công nghệ có sự tham gia của chuyên gia quốc tế và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài. Việc đánh giá sẽ sử dụng các chỉ số khoa học chuẩn hóa theo lĩnh vực như FWCI, CNCI, tỷ lệ công bố thuộc nhóm 10% bài báo được trích dẫn cao nhất cùng các chỉ số quốc tế phù hợp khác.

Song song với đó, Chương trình sẽ được triển khai trên Nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm phục vụ theo dõi, đánh giá, điều chỉnh chương trình và nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Huy động đa dạng nguồn lực đầu tư

Về kinh phí, chương trình xác định ngân sách nhà nước sẽ bảo đảm nguồn lực thực hiện Chương trình thông qua chi sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hằng năm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Nhà nước sẽ đẩy mạnh huy động các nguồn kinh phí hợp pháp từ doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước tham gia thực hiện Chương trình.

Kinh phí thực hiện sẽ được xác định theo quy mô chương trình và nhóm nghiên cứu, phù hợp với mục tiêu, nội dung và yêu cầu khoa học; mức hỗ trợ cụ thể được quyết định trên cơ sở đề xuất và kết quả đánh giá cạnh tranh.

Đáng chú ý, kinh phí sẽ được cấp theo giai đoạn và gắn với kết quả đánh giá trong kỳ, cuối kỳ. Việc điều chỉnh, tiếp tục hoặc chấm dứt tài trợ được thực hiện dựa trên kết quả đánh giá hằng năm hoặc theo yêu cầu đột xuất.

Chương trình cũng ưu tiên bố trí kinh phí cho các nhóm nghiên cứu có huy động nguồn lực đồng tài trợ từ doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ và các nguồn hợp pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư.

Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia sẽ là đơn vị chủ trì tổ chức thực hiện Chương trình PEBR. Quỹ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai, ban hành quy chế quản lý, xây dựng bộ chỉ số đánh giá kết quả, hiệu quả đầu ra và tác động của Chương trình.

Đồng thời, Quỹ sẽ tổ chức công bố kế hoạch triển khai hằng năm; tiếp nhận, rà soát hồ sơ; thành lập các hội đồng khoa học và công nghệ để đánh giá, lựa chọn nhóm nghiên cứu và hướng nghiên cứu theo thẩm quyền.

Các đơn vị chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ xây dựng định hướng ưu tiên cho giai đoạn 2026 - 2030, tổ chức kiểm tra việc triển khai và phối hợp đánh giá kết quả thực hiện Chương trình hằng năm cũng như toàn giai đoạn.

Trong khi đó, các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và tổ chức khoa học công nghệ có liên quan sẽ phối hợp triển khai Chương trình, đồng thời lồng ghép mục tiêu, nhiệm vụ của PEBR vào các chương trình, kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của ngành, lĩnh vực và địa phương.

Theo kế hoạch, Chương trình PEBR sẽ được tổ chức đánh giá giữa kỳ vào năm 2030 để làm cơ sở điều chỉnh mục tiêu, quy mô và cơ chế thực hiện cho giai đoạn tiếp theo.

XM/Báo Tin tức và Dân tộc
Hoàn thiện cơ chế Sandbox thúc đẩy đổi mới mô hình quản trị và kinh doanh
Hoàn thiện cơ chế Sandbox thúc đẩy đổi mới mô hình quản trị và kinh doanh

Trong bối cảnh chuyển đổi số và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đang trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoàn thiện thể chế và tạo dư địa cho các mô hình quản trị, kinh doanh mới phát triển.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN