Eo biển Hormuz. Ảnh: IRNA/TTXVN phá
Eo biển Hormuz từng được giới lãnh đạo Iran coi là trụ cột của trật tự an ninh mới, với giá trị chiến lược thậm chí được ví ngang việc sở hữu vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, Tehran đang đối mặt một nghịch lý: càng sử dụng eo biển Hormuz như công cụ gây sức ép, các nước khác càng có động lực tìm cách giảm phụ thuộc vào tuyến hàng hải này.
Đây là vấn đề đang gây tranh luận tại Iran, trong bối cảnh nền kinh tế chịu sức ép từ chiến tranh và các biện pháp trừng phạt. Những người cảnh báo giá trị của eo biển Hormuz sẽ suy giảm cho rằng Tehran cần sớm đạt thỏa thuận, trước khi nguồn thu ngoại tệ tiếp tục cạn kiệt.
Hamid Paktinat, nhà sáng lập Diễn đàn các nhà hoạt động kinh tế, nhận định các tuyến đường ống và xuất khẩu mới do những nước láng giềng Vùng Vịnh xây dựng có thể khiến giá trị chiến lược của eo biển chiến lược giảm một nửa trong ba năm tới.
Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian gần đây tuyên bố thẳng thắn rằng “chiến tranh đến lúc nào đó phải kết thúc”, đồng thời cho rằng Tehran nên chấm dứt xung đột khi vẫn còn tin mình đang đàm phán từ vị thế có lợi.
Chủ tịch Quốc hội Mohammad Bagher Ghalibaf cũng cảnh báo sức mạnh quân sự không thể duy trì nếu nền kinh tế suy yếu và người dân phải đối mặt với đói nghèo. Thống đốc Ngân hàng Trung ương Iran Abdolnaser Hemmati cho biết nước này đang đồng thời chịu sức ép từ các lệnh trừng phạt, phong tỏa, xuất khẩu dầu sụt giảm và thâm hụt ngân sách.
Theo dữ liệu của công ty theo dõi tàu biển Kpler, chỉ 112 tàu chở dầu và khí đốt đi qua eo biển Hormuz từ ngày 1 đến 19/8. Phần lớn sử dụng các tuyến chưa được xác nhận, trong khi một số tàu được cho là tắt thiết bị nhận dạng và di chuyển dưới sự bảo vệ của Mỹ qua tuyến phía Oman.
Các công ty dầu mỏ Saudi Arabia, UAE, Qatar và Kuwait cũng đang thuê tàu để đưa dầu theo tuyến phía nam ra vịnh Oman, sau đó chuyển hàng sang các tàu khác. Điều này giúp giảm một phần rủi ro cho các hãng vận tải và khách hàng.
Tuy nhiên, lưu lượng dầu hiện vẫn thấp hơn nhiều so với trước chiến tranh. Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright nói lượng dầu vận chuyển qua eo biển Hormuz đã vượt 8 triệu thùng mỗi ngày, nhưng các công ty theo dõi hàng hải ước tính con số thực tế gần 6 triệu thùng.
Arsenio Dominguez, Tổng thư ký Tổ chức Hàng hải Quốc tế, cũng bác tuyên bố rằng Hải quân Mỹ gần như đã mở lại eo biển này, cho rằng số lượng tàu qua eo biển hiện quá ít để có thể nói tuyến hàng hải này đã hoạt động bình thường.
Trước chiến tranh, eo biển Hormuz là tuyến vận chuyển khoảng 20% dầu và các sản phẩm liên quan đến dầu mỏ toàn cầu. Sự phụ thuộc này đang thúc đẩy các nước Vùng Vịnh tái cấu trúc hệ thống năng lượng.
Theo phân tích của Paktinat, mức phụ thuộc của Saudi Arabia vào eo biển Hormuz có thể giảm từ 70% xuống 15%, UAE từ 50% xuống 15% và Iraq từ 100% xuống 30%. Kuwait và Qatar có thể giảm xuống dưới một nửa, trong khi Bahrain từ 100% xuống khoảng 15%.
Oman được dự báo trở thành trung tâm trung chuyển dầu ven biển quan trọng cho khu vực. Paktinat cho rằng nếu các dự án đường ống được triển khai đúng kế hoạch, giá trị chiến lược của eo biển Hormuz có thể giảm một nửa trong ba năm và gần như mất vai trò quyết định trong vòng sáu năm.
Trong khi các nước Vùng Vịnh tìm cách giảm phụ thuộc vào eo biển này, Mỹ dự kiến tiếp tục gây sức ép lên Tehran thông qua các biện pháp trừng phạt nhằm vào vàng, tiền số, công nghệ, vận tải biển và hàng không.
Washington khó có thể nhanh chóng khiến nền kinh tế Iran sụp đổ, nhưng việc từng bước làm suy yếu khả năng chống chịu của Tehran có thể khiến eo biển Hormuz dần mất vai trò như một công cụ gây sức ép.
Nghịch lý đối với Iran là càng biến eo biển Hormuz thành quân bài chiến lược, nước này càng thúc đẩy các đối thủ tìm cách thoát khỏi sự phụ thuộc vào eo biển. Nếu xu hướng này kéo dài, lợi thế từng được xem là một trong những công cụ quyền lực lớn nhất của Tehran có thể trở thành tài sản chiến lược ngày càng kém giá trị.