Nghị quyết 79:

'Đường băng' cho ngân hàng bứt phá - Bài 2: Khi ngân hàng Việt tăng tốc hội nhập tài chính

Nguồn lực vốn được bổ sung từ Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79) không chỉ giúp các ngân hàng thương mại nhà nước mở rộng dư địa tín dụng, nâng cao năng lực tài chính mà còn mở ra cơ hội tham gia sâu hơn vào sân chơi tài chính quốc tế. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là áp lực lớn về quản trị, công nghệ, chuẩn mực quốc tế và hiệu quả sử dụng vốn.

Xung quanh vấn đề này, phóng viên TTXVN đã trao đổi với PGS.TS. Nguyễn Thùy Dương, Trưởng khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng.

Chú thích ảnh
PGS.TS. Nguyễn Thùy Dương, Trưởng khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng. Ảnh: hvnh.edu.vn

Thưa bà, việc Nghị quyết 79 cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn để tăng vốn điều lệ sẽ tác động thế nào đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước?

Việc Nghị quyết 79 cho phép dùng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn để tăng vốn điều lệ là một 'cú hích' dòng vốn cực kỳ kịp thời và quan trọng đối với các ngân hàng thương mại nhà nước. Tác động của chính sách này thể hiện rõ qua 3 khía cạnh lớn.

Thứ nhất, nâng cao năng lực an toàn vốn. Việc cho phép dùng nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn giúp các ngân hàng thương mại nhà nước bổ sung trực tiếp vào vốn điều lệ. Từ đó hệ số an toàn vốn (CAR) sẽ được cải thiện mạnh mẽ, đáp ứng tốt các chuẩn mực quốc tế như Basel II, Basel III, tăng cường năng lực chống chịu rủi ro hệ thống.

Thứ hai, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng. Việc bổ sung vốn điều lệ giúp các ngân hàng thương mại nhà nước tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng của Nhà nước, đồng thời bảo đảm tăng trưởng tín dụng gắn với an toàn vốn và ổn định hệ thống.

Thứ ba, giữ vững vai trò chủ đạo Nhà nước và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Đây là cơ sở để các ngân hàng thương mại Nhà nước cải thiện định mức tín nhiệm quốc tế, giảm chi phí huy động vốn nước ngoài và gia tăng năng lực cạnh tranh với các ngân hàng trong khu vực và giữ vững vị thế dẫn dắt thị trường của nhóm Ngân hàng thương mại Nhà nước.

Nếu được tăng vốn mạnh, chiến lược tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước dự báo sẽ thay đổi ra sao thưa bà?

Khi được tăng vốn, chiến lược tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước có thể sẽ có nhiều chuyển dịch đáng chú ý.

Theo đó, khi được bổ sung vốn, ngân hàng có thể đóng vai trò đầu mối tài trợ cho các dự án hạ tầng quốc gia, dự án năng lượng trọng điểm hoặc các chương trình mục tiêu của Chính phủ thay vì phải đồng tài trợ (cho vay hợp vốn) hoặc hạn chế hạn mức như trước do giới hạn về vốn và tỷ lệ an toàn vốn.

Ngoài ra, chiến lược tín dụng có thể tập trung ưu tiên đặc biệt cho các dự án chuyển đổi năng lượng, phát triển bền vững (ESG). Đây là xu hướng bắt buộc để vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị, vừa tận dụng được nguồn vốn tài trợ xanh từ các tổ chức quốc tế.

Chưa dừng ở đó, vốn lớn còn cho phép các ngân hàng đầu tư mạnh vào công nghệ, từ đó thay đổi cấu trúc danh mục, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng bán buôn, dịch chuyển mạnh sang bán lẻ và khối doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) dựa trên nền tảng số để phân tán rủi ro, quản trị rủi ro tập trung tín dụng.

Trong bối cảnh hiện nay, bà có kiến nghị nào đối với cơ quan quản lý về điều hành chính sách tiền tệ để phù hợp với tinh thần Nghị quyết 79?

Trước tiên, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành room tín dụng theo hướng linh hoạt hơn, từng bước chuyển sang quản lý dựa trên năng lực vốn, hệ số an toàn vốn (CAR) và chất lượng quản trị của từng ngân hàng, phù hợp với lộ trình Basel III. Việc tăng vốn theo Nghị quyết 79 sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình này. Khi năng lực vốn và khả năng chống chịu rủi ro của các ngân hàng được cải thiện, Ngân hàng Nhà nước có thể ưu tiên tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức có bộ đệm vốn tốt, quản trị minh bạch và kiểm soát rủi ro hiệu quả. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng điều hành theo chuẩn quốc tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng tín dụng của hệ thống.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cần điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phối hợp đồng bộ các công cụ và gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa, nhằm định hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực then chốt, chiến lược và các dự án trọng điểm quốc gia; qua đó vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa bảo đảm ổn định vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế.

Hiện nay nhiều ngân hàng đang có kế hoạch thành lập ngân hàng con tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, những tác động từ nghị quyết 79 mở ra cơ hội và thách thức nào đối với các ngân hàng này thưa bà?

Không khó để thấy Nghị quyết 79 đang mở ra nhiều cơ hội cho các ngân hàng khi tham gia trung tâm tài chính quốc tế. Bởi lẽ các Trung tâm tài chính quốc tế vận hành theo Thông lệ quốc tế với yêu cầu rất cao về định mức tín nhiệm và năng lực tài chính. Nguồn vốn tăng thêm từ Nghị quyết 79 giúp các ngân hàng đáp ứng điều kiện pháp lý để thành lập một pháp nhân con độc lập tại đây.

Thêm vào đó, với bộ đệm vốn dày, ngân hàng con tại Trung tâm tài chính quốc tế mới đủ sức cung ứng các dịch vụ tài chính cao cấp như Ngân hàng đầu tư (Investment Banking), Ngân hàng tư nhân (Private Banking), bảo lãnh phát hành trái phiếu quốc tế hay tài trợ các chuỗi cung ứng toàn cầu… Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi năng lực vốn, quản trị và tiêu chuẩn vận hành cao.

Ngoài ra, năng lực tài chính mạnh từ ngân hàng mẹ sẽ là lợi thế về uy tín và năng lực tài chính để ngân hàng con thu hút các tập đoàn đa quốc gia và dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn dịch chuyển vào Trung tâm tài chính quốc tế.

Dù cơ hội là thế nhưng thách thức cũng không nhỏ. Trước tiên là áp lực về hiệu quả sinh lời. Rót vốn lớn vào ngân hàng con tại Trung tâm tài chính quốc tế đồng nghĩa với việc áp lực hiệu quả tài chính tăng lên. Giai đoạn đầu vận hành tại Trung tâm tài chính quốc tế thường chi phí lớn, nếu không có chiến lược sản phẩm tốt, ngân hàng có thể chịu áp lực về hiệu quả sử dụng vốn trong ngắn hạn.
Thêm nữa, tại Trung tâm tài chính quốc tế, ngân hàng con phải vận hành 100% theo thông lệ quốc tế tốt nhất (như Basel III, IFRS). Đây là thách thức về mặt hệ thống công nghệ thông tin lõi (Core banking) và yêu cầu đội ngũ nhân sự chất lượng cao đáp ứng yêu cầu quản trị theo chuẩn quốc tế.

Trân trọng cảm ơn bà!

Bài cuối: Bài toán quản trị sau cú hích

Lê Phương/TTXVN (Thực hiện)
Nghị quyết 79 - 'Đường băng' cho ngân hàng bứt phá (Bài 1)
Nghị quyết 79 - 'Đường băng' cho ngân hàng bứt phá (Bài 1)

Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết 79) đang mở ra dư địa mới cho hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước, từ tháo gỡ điểm nghẽn vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh đến thúc đẩy đổi mới quản trị theo chuẩn quốc tế. Không chỉ tạo thêm nguồn lực cho các ngân hàng giữ vai trò chủ lực của nền kinh tế, nghị quyết còn được kỳ vọng tạo hiệu ứng lan tỏa tới tăng trưởng, đầu tư và ổn định vĩ mô trong giai đoạn phát triển mới. Thông tấn xã Việt Nam thực hiện chuyên đề “Nghị quyết 79: “Đường băng” cho ngân hàng bứt phá” với 3 bài viết phân tích những cơ hội, thách thức và yêu cầu đặt ra để “cú hích” chính sách phát huy hiệu quả thực chất.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN