Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres phát biểu trong cuộc họp báo tại New York, Mỹ. Ảnh: THX/TTXVN
Năm nay, sự kiện được phát động với chủ đề “Hành động địa phương vì tác động toàn cầu” (“Acting locally for global impact”), phản ánh thông điệp cấp bách rằng cuộc chiến bảo vệ đa dạng sinh học không còn là câu chuyện của riêng các chính phủ hay tổ chức quốc tế, mà đòi hỏi sự tham gia của từng cộng đồng, từng doanh nghiệp và từng cá nhân.
Trong bối cảnh thế giới đối mặt đồng thời với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, suy giảm tài nguyên và các cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu, đa dạng sinh học ngày càng được nhìn nhận như mạng lưới sự sống duy trì sự tồn tại của nhân loại. Tuy nhiên, chính “lưới sống” ấy đang bị phá hủy với tốc độ chưa từng có.
Lời cảnh báo khẩn cấp
Trong thông điệp nhân Ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm nay, Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres nhấn mạnh thiên nhiên đang bị đẩy tới “bờ vực sụp đổ” do biến đổi khí hậu, ô nhiễm và việc khai thác quá mức tài nguyên đất, biển và nguồn nước ngọt. Theo ông, hậu quả không chỉ dừng lại ở môi trường mà còn đe dọa trực tiếp sinh kế, an ninh lương thực, sức khỏe và sự phát triển bền vững của toàn nhân loại.
Những con số thống kê gần đây cho thấy mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng. Dân số thế giới hiện đã vượt 8 tỷ người và dự kiến đạt 8,5 tỷ người vào năm 2030, tạo áp lực ngày càng lớn cho các hệ sinh thái vốn đang suy thoái nhanh chóng. Khoảng 84% rạn san hô toàn cầu đã bị tẩy trắng trong giai đoạn 2023-2025 - mức nghiêm trọng nhất từng được ghi nhận. Rừng Amazon mất hơn 20% diện tích trong vòng nửa thế kỷ qua, trong khi hơn 35% trữ lượng cá toàn cầu đang bị khai thác quá mức.
Voọc mũi hếch vàng tại công viên Pairi Daiza, Bỉ. Ảnh : TTXVN phát
Không chỉ vậy, các nghiên cứu khoa học cũng chỉ ra rằng sự suy giảm đa dạng sinh học làm gia tăng nguy cơ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do phá vỡ cân bằng hệ sinh thái. Sau đại dịch COVID-19, giới khoa học và các tổ chức quốc tế ngày càng nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa khủng hoảng môi trường và khủng hoảng y tế. Khi môi trường sống của động vật hoang dã bị thu hẹp, nguy cơ virus lây truyền từ động vật sang người cũng gia tăng đáng kể.
Trong bối cảnh đó, bảo vệ đa dạng sinh học không còn chỉ là một mục tiêu môi trường đơn thuần, mà trở thành yêu cầu cấp thiết đối với an ninh và sự phát triển của nhân loại.
“Hiệp định Paris vì thiên nhiên”
Trong thông điệp video đầu tháng 5/2026, Giám đốc điều hành Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) Inger Andersen nhấn mạnh rằng dù đa dạng sinh học đang suy giảm với tốc độ chưa từng có, cuộc chiến đảo ngược xu hướng này đã bắt đầu và cần được thúc đẩy mạnh mẽ hơn từ cấp địa phương.
Một con bướm tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Cuyabeno thuộc khu vực rừng nhiệt đới Amazon, Ecuador, ngày 28/3/2024. Ảnh: AFP/TTXVN
Theo bà Andersen, Khung Đa dạng Sinh học toàn cầu Côn Minh - Montreal, được gần 200 quốc gia thông qua tại Hội nghị lần thứ 15 các bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học (COP15) ở Montreal cuối năm 2022, hiện là “lộ trình toàn cầu” nhằm đưa thiên nhiên trở lại quỹ đạo phục hồi. Văn kiện này thường được ví như “Hiệp định Paris vì thiên nhiên”, đặt ra hàng loạt mục tiêu tham vọng đến năm 2030, trong đó nổi bật là mục tiêu “30x30” - bảo vệ ít nhất 30% diện tích đất liền và đại dương toàn cầu.
Điểm đáng chú ý của khuôn khổ này là cách tiếp cận “toàn xã hội”, nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương, người bản địa, doanh nghiệp và hệ thống tài chính trong công tác bảo tồn thiên nhiên. Theo UNEP, chỉ khi các giải pháp cụ thể được triển khai từ cơ sở, những cam kết toàn cầu mới có thể chuyển hóa thành kết quả thực chất.
Thực tế cho thấy nhiều quốc gia đã bắt đầu đẩy mạnh các chương trình bảo tồn quy mô lớn. Liên minh châu Âu (EU) đang triển khai Chiến lược Đa dạng sinh học đến năm 2030 với mục tiêu bảo vệ 30% diện tích đất và biển, đồng thời thúc đẩy phục hồi các hệ sinh thái suy thoái. Tại khu vực Amazon, nhiều chương trình trao quyền cho cộng đồng bản địa được xem là giải pháp quan trọng để ngăn chặn nạn phá rừng.
Theo UNEP, hiện đã có hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ vượt mục tiêu bảo vệ 30% diện tích sinh thái trên đất liền, trong khi hơn 30 quốc gia đạt mục tiêu tương tự trên biển. Tuy nhiên, tổ chức này cảnh báo tiến độ chung toàn cầu vẫn chưa đủ nhanh để đảo ngược xu hướng suy giảm hiện nay.
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới với nhiều hệ sinh thái đặc thù như rừng nhiệt đới, đất ngập nước, rạn san hô và hệ sinh thái biển ven bờ. Đồng thời, Việt Nam cũng là một trong những nước sớm tham gia Công ước Đa dạng sinh học (CBD).
Những năm gần đây, Việt Nam đã ban hành nhiều chiến lược và chương trình bảo tồn thiên nhiên, đặt mục tiêu đến năm 2030 bảo tồn khoảng 9% diện tích đất liền và 3-5% diện tích biển; phục hồi 20% hệ sinh thái tự nhiên suy thoái và không để tuyệt chủng thêm các loài động vật hoang dã hiện ở diện nguy cấp.
Tại Việt Nam, nhiều mô hình bảo tồn từ phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ các loài linh trưởng quý hiếm đến giảm rác thải nhựa ở khu vực ven biển đang cho thấy cách tiếp cận bảo tồn gắn với cộng đồng ngày càng phát huy hiệu quả.
Đàn cò nhạn hàng trăm con xuất hiện trên các cánh đồng của xã Nam Gianh (Quảng Trị). Ảnh: TTXVN phát
Việt Nam cũng là một trong những nước tích cực tham gia các cam kết quốc tế về đa dạng sinh học, như: Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (tham gia năm 1987), Công ước Ramsar về bảo tồn các vùng đất ngập nước (năm 1989), Công ước đa dạng sinh học (năm 1994), Công ước về thương mại quốc tế đối với các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (năm 1994); tham gia Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh-Montreal (GBF) ….
Chủ đề của Ngày Quốc tế đa dạng sinh học năm nay cũng thể hiện một thông điệp rõ ràng: những hành động nhỏ ở cấp địa phương có thể tạo nên tác động toàn cầu. Việc giảm sử dụng nhựa dùng một lần, tiêu dùng bền vững, bảo vệ nguồn nước hay tham gia trồng cây xanh đều là những mắt xích quan trọng trong nỗ lực bảo vệ “lưới sống” của hành tinh .
UNEP gọi giai đoạn 2020-2030 là “thập niên quyết định” của thiên nhiên, bởi nếu các mục tiêu hiện nay không đạt được, khả năng phục hồi của nhiều hệ sinh thái có thể suy giảm không thể đảo ngược. Bảo vệ đa dạng sinh học vì thế không chỉ là lựa chọn mang tính đạo đức hay môi trường, mà là điều kiện tiên quyết để bảo đảm tương lai phát triển bền vững của nhân loại. Khi một mắt xích trong tự nhiên bị phá vỡ, những tác động dây chuyền có thể lan rộng tới toàn bộ hệ thống kinh tế, xã hội và đời sống con người.
Cứu lấy “lưới sống” của hành tinh, xét cho cùng, cũng chính là hành trình nhân loại tự cứu mình.