Hệ thống cảng biển và khu công nghiệp mở rộng tạo dư địa để TP Hồ Chí Minh phát triển chuỗi logistics liên vùng.
Tái cấu trúc không gian logistics theo ba lớp
Sau hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh có điều kiện hình thành một hệ sinh thái logistics hoàn chỉnh, kết nối khu vực sản xuất công nghiệp với hệ thống cảng biển, sân bay, trung tâm thương mại và thị trường tiêu dùng. Không gian phát triển mới không chỉ giải quyết bài toán thiếu quỹ đất mà còn tạo dư địa xây dựng các trung tâm logistics quy mô lớn, phục vụ vận chuyển hàng hóa trong nước và quốc tế.
Lợi thế của thành phố nằm ở khả năng bổ trợ giữa ba khu vực. Đô thị trung tâm giữ vai trò đầu mối tài chính, thương mại, dịch vụ và tiêu dùng; Bình Dương là trung tâm sản xuất công nghiệp, kho vận; trong khi Bà Rịa - Vũng Tàu sở hữu cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải, có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn. Nếu được kết nối đồng bộ, các nguồn lực này sẽ tạo thành chuỗi cung ứng thống nhất, nâng cao sức cạnh tranh cho toàn vùng.
Theo công bố gần nhất của Ngân hàng Thế giới, chỉ số hiệu quả logistics của Việt Nam đứng thứ 43 trong số 139 nền kinh tế, giảm bốn bậc so với kỳ đánh giá trước. Kết quả này cho thấy ngành logistics dù có tốc độ phát triển nhanh nhưng năng lực cạnh tranh, chất lượng hạ tầng và hiệu quả vận hành vẫn còn nhiều hạn chế.
Hiện ngành logistics Việt Nam đang duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 14 - 16%/năm, thuộc nhóm 10 thị trường logistics mới nổi, đứng thứ tư tại Đông Nam Á và đóng góp khoảng 4 - 5% GDP. Tuy nhiên, chi phí logistics vẫn chiếm từ 16,5 - 18% GDP, cao hơn đáng kể so với mức trung bình thế giới khoảng 10 - 11%.
Ông Lê Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Công Thương TP Hồ Chí Minh, cho biết logistics đang đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của thành phố. Số liệu gần nhất cho thấy GRDP thành phố tăng 7,83%, đạt gần 2,97 triệu tỷ đồng. Riêng lĩnh vực vận tải và kho bãi đạt hơn 568.000 tỷ đồng, tăng 12,7% và chiếm khoảng 19,1% quy mô nền kinh tế. Dù vậy, hạ tầng giao thông kết nối giữa khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và trung tâm logistics vẫn thiếu đồng bộ. Tình trạng quá tải tại các cửa ngõ vận tải kéo dài thời gian lưu thông hàng hóa, làm tăng chi phí lưu kho, vận chuyển và ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, nhiều tuyến đường kết nối cảng thường xuyên chịu áp lực lớn, trong khi khả năng chia sẻ hàng hóa bằng đường sắt và đường thủy chưa được khai thác tương xứng. Hệ thống kho bãi, trung tâm trung chuyển và cảng cạn cũng chưa được bố trí hợp lý, khiến hàng hóa phải đi qua nhiều điểm trung gian trước khi đến cảng hoặc khu vực tiêu thụ.
Theo ông Lê Văn Danh, thành phố cần tái cấu trúc không gian logistics theo mô hình ba lớp chức năng, gắn với việc hình thành khu thương mại tự do. Lớp thứ nhất là logistics quốc tế và liên vùng, tập trung tại các cửa ngõ cảng biển, sân bay và đầu mối vận tải lớn. Lớp thứ hai là logistics trung chuyển, phân phối, kết nối các khu công nghiệp với hệ thống kho bãi và trung tâm hàng hóa. Lớp thứ ba là logistics đô thị, phục vụ hoạt động phân phối, thương mại điện tử và nhu cầu tiêu dùng trong nội thành.
Cùng với tổ chức lại không gian, TP Hồ Chí Minh định hướng nâng cấp cảng Cái Mép - Thị Vải và cảng Cần Giờ theo mô hình “siêu cảng số”. Hệ thống cảng cần được kết nối với đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa, qua đó hình thành mạng lưới vận tải đa phương thức. Việc phân luồng hàng hóa hợp lý sẽ góp phần giảm áp lực cho khu vực đô thị lõi, rút ngắn thời gian vận chuyển và hạn chế phương tiện phải di chuyển qua nhiều điểm trung gian.
Với việc quỹ đất mở rộng sau hợp nhất tạo điều kiện bố trí những trung tâm logistics quy mô lớn gần khu công nghiệp và cảng biển. Đây là cơ sở hình thành các vành đai logistics, giúp hàng hóa được tập kết, phân loại và vận chuyển ngay tại khu vực sản xuất, thay vì đưa toàn bộ vào khu vực trung tâm. Giải pháp này vừa tiết kiệm chi phí, vừa giảm ùn tắc giao thông và phát thải trong đô thị.
Hạ tầng giao thông đồng bộ sẽ rút ngắn thời gian vận chuyển từ khu công nghiệp đến cảng biển và trung tâm logistics.
Ông Nguyễn Trung Tín, Phó trưởng Ban Quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp TP Hồ Chí Minh cho biết, hệ thống khu công nghiệp đang đứng trước yêu cầu “đại tu” toàn diện. Thành phố hiện có 17 khu chế xuất và khu công nghiệp với tổng diện tích 3.733 ha, tỷ lệ lấp đầy khoảng 80%, thu hút hơn 5.300 dự án với tổng vốn gần 80 tỷ USD và tạo việc làm cho khoảng 920.000 lao động.
Theo ông Nguyễn Trung Tín, mô hình phát triển cũ không còn phù hợp khi quỹ đất hạn hẹp, chi phí sản xuất gia tăng và cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt. Các nhà đầu tư không chỉ quan tâm đến mặt bằng mà còn yêu cầu hạ tầng số, năng lượng xanh, kho vận hiện đại và khả năng kết nối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Vì vậy, quá trình chuyển đổi khu công nghiệp phải được thực hiện đồng thời với nâng cấp hệ thống logistics.
Tạo động lực bằng logistics xanh
Theo các chuyên gia kinh tế, để trở thành trung tâm logistics tầm khu vực, TP Hồ Chí Minh cần triển khai đồng bộ cả “phần cứng” và “phần mềm”. Đầu tư đường sá, cảng biển, đường sắt, kho bãi sẽ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu cơ chế điều phối thống nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao và nền tảng dữ liệu dùng chung. Theo đó, Thành phố cần xây dựng hệ thống chia sẻ dữ liệu giữa doanh nghiệp logistics, cảng, hải quan, khu công nghiệp và cơ quan quản lý.
Nền tảng này sẽ giúp theo dõi hành trình hàng hóa, dự báo nhu cầu, điều phối phương tiện và giảm thời gian xử lý thủ tục. Việc kết nối dữ liệu cũng giúp cơ quan quản lý nhận diện sớm những điểm ùn tắc để có phương án phân luồng phù hợp.
Ông Nguyễn Thành Trung, Phó Giám đốc Sở Tài chính TP Hồ Chí Minh, cho biết Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10% và đang triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi. Theo đó, doanh nghiệp có thể được giảm tối thiểu 30% tiền thuê đất và hỗ trợ lãi suất 2% đối với các dự án xanh.
Ngoài ra, thông qua Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước TP Hồ Chí Minh, một số lĩnh vực còn có thể được hỗ trợ lãi suất lên tới 100% đối với các khoản vay quy mô lớn, dài hạn. Những chính sách này sẽ tạo thêm nguồn lực để doanh nghiệp đầu tư phương tiện vận tải sạch, kho thông minh, dây chuyền tự động hóa và công nghệ tiết kiệm năng lượng.
TP Hồ Chí Minh hướng tới xây dựng hệ sinh thái logistics xanh, cảng thông minh và trung tâm hàng hải có sức cạnh tranh quốc tế.
Theo ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, quy hoạch dài hạn xác định TP Hồ Chí Minh có 105 khu công nghiệp với tổng diện tích hơn 49.000 ha. Không gian phát triển mới tạo điều kiện để thành phố cơ cấu lại ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên công nghệ cao, sản xuất thông minh, ít phát thải và có giá trị gia tăng lớn. Tuy nhiên, việc mở rộng các khu công nghiệp sẽ kéo theo nhu cầu rất lớn về vận tải, kho bãi, phân phối và dịch vụ chuỗi cung ứng. Vì vậy, quy hoạch công nghiệp cần được thực hiện đồng thời với quy hoạch logistics, bảo đảm mỗi khu sản xuất đều có đường kết nối, kho trung chuyển và phương án vận tải phù hợp.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Vũ Ninh, thành viên Hội đồng quản trị Tập đoàn Gemadept cho biết, TP Hồ Chí Minh có thể hướng đến mục tiêu lớn hơn là hình thành trung tâm hàng hải tầm khu vực và quốc tế, thay vì chỉ phát triển các dịch vụ logistics riêng lẻ. Ông cũng dẫn chứng như mô hình Singapore, nơi hệ sinh thái hàng hải tạo ra đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, để cho thấy giá trị không chỉ nằm ở khai thác cảng mà còn đến từ vận tải biển, tài chính, bảo hiểm, công nghệ, sửa chữa tàu và các dịch vụ hỗ trợ.
Để hoàn thành các mục tiêu trên, trước mắt, Thành phố cần xây dựng cơ chế điều phối chung để liên kết các cảng trong khu vực Cái Mép – Thị Vải thành chuỗi khai thác thống nhất, hạn chế tình trạng mỗi bến cảng vận hành theo một quy trình riêng. Các cảng có thể dùng chung một số dịch vụ hậu cần, dữ liệu lịch tàu, hệ thống điều phối phương tiện và hạ tầng kho bãi nhằm nâng hiệu suất khai thác. Doanh nghiệp đầu ngành cần giữ vai trò dẫn dắt, kết nối các hãng tàu, nhà khai thác cảng và doanh nghiệp logistics để từng bước xây dựng hệ sinh thái hàng hải hoàn chỉnh.
Về lâu dài, TP Hồ Chí Minh cần ưu tiên đầu tư các tuyến giao thông kết nối cảng với khu công nghiệp, trung tâm logistics và mạng lưới đường sắt, đường thủy nội địa; đồng thời phát triển cảng thông minh, thủ tục hải quan số và nền tảng chia sẻ dữ liệu chuỗi cung ứng. Thành phố cũng cần chuẩn bị nguồn nhân lực chuyên sâu về quản trị cảng, vận tải biển, logistics số và tài chính hàng hải; khuyến khích phương tiện sử dụng năng lượng sạch, kho bãi tiết kiệm năng lượng và đo lường phát thải trong toàn chuỗi.
Khi công nghiệp, cảng biển, giao thông, công nghệ và nhân lực được đặt trong một chiến lược thống nhất, lợi thế sau hợp nhất mới có thể chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực chất, đưa TP Hồ Chí Minh tiến gần mục tiêu trở thành trung tâm logistics xanh, thông minh và trung tâm hàng hải quốc tế.