Quản trị rủi ro trong vận hành hồ chứa - Bài cuối: Chuyển sang quản trị tổng hợp

Một lưu vực chung, 6 trục sông, 19 thủy điện nay cùng nằm trong một không gian hành chính. Đây là lợi thế đặc biệt của Đà Nẵng để chuyển từ quản lý từng công trình sang quản trị tổng hợp toàn bộ dòng nước, từ thượng nguồn đến hạ du. Thành phố không thiếu dữ liệu, nhưng cần một "bộ não" nhìn thấy đồng thời nước ở hồ, nước trên sông và người dân trong vùng có nguy cơ ngập.

Chú thích ảnh
Hồ thủy điện Sông Tranh 2 vận hành xả lũ điều tiết hồ chứa. Ảnh tư liệu: Trần Tĩnh/TTXVN

Phân tán dữ liệu và mâu thuẫn lợi ích trong vận hành

Sau khi sắp xếp địa giới hành chính, phần lớn chuỗi hồ chứa thượng nguồn, vùng đệm trung du và hạ du chịu ảnh hưởng hiện đã nằm trong cùng một không gian điều hành thống nhất của thành phố Đà Nẵng. Sự thay đổi lịch sử này mở ra cơ hội lớn để thành phố chuyển đổi từ mô hình quản lý đơn lẻ sang phương thức quản trị rủi ro tích hợp toàn bộ lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn. Điều này chỉ thành hiện thực khi thành phố xây dựng một "bộ não" điều hành thông minh, nhìn thấy mực nước tại các hồ chứa, lưu lượng trên sông và vị trí người dân trong vùng ngập lụt.

Để thấy rõ sự cần thiết của "bộ não" quản trị chung, cần phân tích thực trạng chia cắt dữ liệu hiện nay trên lưu vực. Quy trình vận hành liên hồ chứa theo Quyết định số 1865/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định các ngưỡng mực nước, thứ tự ưu tiên điều tiết nước, chế độ cắt giảm lũ và trách nhiệm cung cấp thông tin. Quy trình này giúp các chủ hồ chứa phối hợp, khắc phục tình trạng mạnh ai nấy vận hành theo mục tiêu phát điện riêng như trước đây.

Tuy nhiên, quy trình liên hồ này chủ yếu vẫn điều chỉnh các khía cạnh kỹ thuật cơ học, chưa xây dựng được cơ chế kết nối thời gian thực với hạ du, tạo ra những khoảng trống thông tin khi có thiên tai bất thường.

Dung tích hồ chứa có giới hạn, không thể giữ toàn bộ nước trong các đợt mưa bão cực đoan kéo dài. Quyết định xả nước đón lũ hay giữ nước phát điện là bài toán cân não. Nếu xả đón lũ quá sớm dựa trên dự báo không chính xác, hồ chứa sẽ thiếu nước phát điện và đẩy mạnh mùa cạn. Ngược lại, nếu chủ quan giữ mực nước hồ quá cao khi lũ về, công trình không còn dung tích phòng lũ, buộc xả tràn với lưu lượng lớn, gây ngập lụt nghiêm trọng cho hạ du, đe dọa đến tính mạng nhân dân.

Muốn đưa ra quyết định chính xác, người chỉ huy phải nhìn thấy toàn bộ hệ thống cùng một thời điểm. Thực tế, dữ liệu vẫn phân tán. Đại diện Thủy điện A Vương phản ánh bất cập: Cùng một số liệu quan trắc lượng mưa, lưu lượng về hồ, nhân viên phải nhập thủ công lên nhiều hệ thống của khí tượng, công thương, tài nguyên nước và điện lực. Thao tác lặp lại này trong lúc lũ lên nhanh vừa lãng phí thời gian vừa tăng nguy cơ sai sót, chậm trễ việc xả lũ cũng như dự báo mực nước ở hạ lưu sông Vu Gia.

Do đó, doanh nghiệp thủy điện (như Geruco Sông Côn) đã kiến nghị thống nhất một hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung để nhập số liệu một lần, các cơ quan cùng khai thác trực tuyến. Ở chiều ngược lại, Ủy ban nhân dân xã Thượng Đức phản ánh họ chỉ nhận thông báo xả riêng lẻ từ từng chủ hồ qua email, không có công cụ tính tác động tổng hợp của cả chuỗi hồ chứa đối với địa bàn. Cán bộ xã không thể tự chắp vá các mảnh dữ liệu trong điều kiện bão gió để đoán định diễn biến dòng nước đổ về dòng Vu Gia.

Để giải quyết nghịch lý này, Thủy điện Sông Tranh 3 đề xuất kết nối dữ liệu của chuỗi hồ chứa bậc thang, trạm đo mưa và mực nước sông vào bản đồ số động thống nhất. Dữ liệu xả tràn của hồ phía thượng nguồn sẽ tự động trở thành dữ liệu đầu vào tính toán mực nước cho công trình phía hạ du, thay vì truyền tải thủ công bằng văn bản giấy hay cuộc gọi rời rạc. Việc kết nối tự động này đảm bảo tính liên tục của thông tin chỉ huy, giúp các hồ phía dưới chủ động điều tiết dung tích đón lũ từ sớm, giảm bớt áp lực ngập tràn cho hạ du.

Khơi thông dòng chảy dữ liệu

Để hiện thực hóa quản trị thông minh, dữ liệu hồ chứa phải đồng bộ hóa thời gian thực với mô hình dự báo mưa, mực nước sông, bản đồ địa hình và hiện trạng bồi lắng lòng dẫn. Thủy điện A Vương kiến nghị thành phố Đà Nẵng rà soát, đánh giá lại các cấp độ báo động lũ và vị trí trạm quan trắc tại khu vực Hội Khách, Ái Nghĩa, An Trạch. Sự rà soát này vô cùng cấp thiết bởi giao thông, phân bố dân cư và lòng sông hạ du đã có biến động lớn do ảnh hưởng của đô thị hóa và sự thay đổi dòng chảy qua nhiều năm mưa bão.

Bên cạnh giải pháp công nghệ, việc nâng cao quyền điều hành chủ động cho thành phố cũng được đặt ra. Hiện Sở Nông nghiệp và Môi trường Đà Nẵng đang nghiên cứu đề xuất điều chỉnh Quy trình vận hành liên hồ chứa Vu Gia - Thu Bồn theo hướng điều chỉnh thời gian mùa lũ, hạ thấp mực nước đón lũ để tăng dung tích phòng lũ. Đồng thời, cần làm rõ thẩm quyền ra lệnh vận hành trong tình huống thời tiết bất thường, cực đoan để tăng quyền chủ động điều phối cho lãnh đạo thành phố, tránh việc xin ý kiến lòng vòng làm mất thời cơ vàng bảo vệ hạ du.

Quy trình vận hành liên hồ chứa Vu Gia - Thu Bồn đang được đề xuất thay thế, thay vì chỉ sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1865/QĐ-TTg. Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng đề xuất, kéo dài từ 1/9 đến ngày 20/12 (thay cho kết thúc vào 15/12); quy định mực nước vận hành theo hướng tăng dung tích phòng lũ và tăng quyền chủ động cho Chủ tịch UBND thành phố trong tình huống bất thường, khẩn cấp.

Tuy nhiên, PGS.TS Trần Mạnh Huy - đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng cho rằng, việc thay đổi không nên chỉ dừng ở thời gian mùa lũ hay mực nước hồ. Quy trình mới cần chuyển từ mô hình tĩnh sang quản trị thích ứng toàn lưu vực, dựa trên dự báo, số liệu thực đo, tình trạng các hồ và nguy cơ ngập ở hạ du.

Tuy nhiên, quyền lực điều hành phải đi liền với trách nhiệm giải trình minh bạch. Mỗi khi một lệnh vận hành hồ chứa được phát đi từ trung tâm chỉ huy, hệ thống phải tự động ghi vết dữ liệu chi tiết: từ thông số lệnh, thời điểm hồ nhận lệnh mở van, thời điểm thông báo về đến xã, thôn, cho đến khi hộ dân cuối cùng hoàn thành việc di dời đến nơi tránh lũ an toàn. Việc này giúp cơ quan quản lý nhận diện nhanh mắt xích nào làm tốt, mắt xích nào chậm trễ để kịp thời chấn chỉnh, không để xảy ra tình trạng thông tin bị nghẽn ở chặng trung gian trong khi nước lũ dâng cao.

Minh bạch hóa trách nhiệm và đánh giá độc lập sau thiên tai

Từ thực tế trên, PGS.TS Trần Mạnh Huy đã đưa ra góc nhìn mang tính chiến lược khi cho rằng, chỗ chưa thông suốt lớn nhất hiện nay không nằm ở việc có hay không có quy trình kỹ thuật. Vấn đề cốt lõi là khả năng biến quy trình trên giấy thành hành động thực tế có thể kiểm chứng được ở hạ du. Mục tiêu tối thượng của việc vận hành hồ chứa và cảnh báo thiên tai phải là đảm bảo người dân nhận được thông tin kịp thời, hiểu rõ nguy cơ và rời khỏi vùng nguy hiểm an toàn trước khi nước lũ đổ về.

Quan điểm này đòi hỏi thành phố phải xây dựng một quy trình quản trị theo kết quả thực tế. "Bộ não" quản trị lưu vực thống nhất không thể chỉ là một phần mềm công nghệ thông tin thuần túy giao cho một đơn vị kỹ thuật vận hành. Thiết chế này phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa ban chỉ huy điều hành hồ chứa với các lực lượng phòng thủ dân sự, giao thông vận tải, công an, quân sự, y tế và chính quyền địa phương cơ sở, đảm bảo thông tin thông suốt từ thượng nguồn đến hạ du, hỗ trợ kịp thời cho các địa phương cơ sở.

Một cuộc đánh giá độc lập thực hiện bởi các chuyên gia khoa học sau mỗi mùa mưa lũ là yêu cầu bắt buộc để nâng cao năng lực quản trị. Đánh giá này giúp bóc tách, phân tích rõ tỷ lệ thiệt hại hạ du là do thiên tai, quy hoạch sử dụng đất, do vận hành hồ chứa hay do sự ứng phó của địa phương và người dân. Sự minh bạch này giúp bảo vệ các chủ hồ vận hành đúng lệnh trước những quy kết thiếu căn cứ, đồng thời đảm bảo người dân có con đường pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp khi có sai phạm xảy ra.

PGS.TS Trần Mạnh Huy cho rằng, xây dựng "bộ não" quản trị lưu vực không đơn thuần là giải quyết bài toán kỹ thuật hay đầu tư công nghệ. Đó là việc thay đổi tư duy quản lý, hướng tới sự phối hợp nhịp nhàng, chia sẻ dữ liệu minh bạch và xác định trách nhiệm rõ ràng vì an toàn của nhân dân.

Trước mùa mưa bão mới, việc khơi thông dòng chảy dữ liệu từ thượng nguồn đến hạ du sẽ là câu trả lời thuyết phục nhất của chính quyền thành phố, bảo đảm mọi người dân hạ du được đưa đến nơi an toàn trước khi dòng lũ dữ đổ về dòng sông Vu Gia - Thu Bồn.

Kha Phạm (TTXVN)
Quản trị rủi ro trong vận hành hồ chứa - Bài 2: Chặng cuối của cảnh báo
Quản trị rủi ro trong vận hành hồ chứa - Bài 2: Chặng cuối của cảnh báo

Khi những đợt mây mù bắt đầu bao phủ các đỉnh núi phía thượng nguồn sông Vu Gia và sông Côn, nỗi lo âu về những trận lũ quét lại ùa về trong lòng người dân phía dưới hạ du các hồ thủy điện.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN