Sản xuất giày da xuất khẩu tại Công ty Cổ phần Đầu tư và Sản xuất Lefaso Trà Vinh, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Phúc Sơn/TTXVN
Từ đa dạng hóa thị trường, tận dụng FTA và đáp ứng quy tắc xuất xứ đến nâng tỷ lệ chế biến, đổi mới công nghệ và tăng liên kết trong nước, những giải pháp này đang trở thành yêu cầu thiết thực để xuất khẩu tăng trưởng bền vững và tạo giá trị cao hơn cho nền kinh tế.
Để duy trì đà tăng trưởng và mở rộng dư địa xuất khẩu, điều cần thay đổi trước hết là cách nhìn về xuất nhập khẩu. Tại cuộc họp về Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân nhấn mạnh: Chiến lược mới phải phù hợp với bối cảnh, có tính khả thi và đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số. Đặc biệt, xuất nhập khẩu cần được nhìn nhận theo hướng cân bằng động, không chỉ quan tâm tốc độ xuất khẩu mà phải đặt xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất trong nước và chuỗi cung ứng trong một chỉnh thể. Đây không chỉ là sự thay đổi về cách tiếp cận trong xây dựng chiến lược mà còn gợi mở cách nhìn rộng hơn về động lực xuất khẩu.
PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế cho biết: Xuất khẩu tăng không chỉ mở rộng thị trường cho doanh nghiệp mà còn tạo thêm nguồn lực cho sản xuất, qua đó đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP). Vì vậy, duy trì đà tăng xuất khẩu trong những tháng cuối năm có ý nghĩa quan trọng với mục tiêu tăng trưởng chung. Hơn nữa, xuất khẩu càng mở rộng quy mô càng tạo thêm giá trị cho nền kinh tế; giúp chuyển các nguồn lực trong nước thành hàng hóa có khả năng tham gia thị trường quốc tế nâng cao hiệu quả khai thác.
Một động lực quan trọng khác là mối quan hệ giữa xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Việt Nam có mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng, tạo điều kiện để doanh nghiệp FDI sản xuất tại Việt Nam và tiếp cận các thị trường lớn. Do đó, xuất khẩu phát triển sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư, trong khi FDI lại bổ sung nguồn lực, công nghệ, thị trường và phương thức quản trị cho nền kinh tế.
Theo ông Nguyễn Thường Lạng, Việt Nam cần tiếp tục thu hút FDI gắn với chuyển giao công nghệ, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Cùng đó, xúc tiến thương mại cần tiếp tục được đẩy mạnh, khai thác hiệu quả các thị trường còn nhiều dư địa như châu Âu, ASEAN, Trung Đông và châu Phi. Doanh nghiệp cũng cần nâng cấp sản phẩm, xanh hóa, hữu cơ hóa và minh bạch hóa chuỗi cung ứng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
Đặc biệt, doanh nghiệp cần chủ động hơn trong liên kết, đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao năng lực công nghệ. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào lợi thế truyền thống mà phải mạnh dạn tham gia những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, đầu tư cho công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và xây dựng thị trường. Cùng với nỗ lực của doanh nghiệp, cần hình thành hệ sinh thái hỗ trợ để tạo đường băng cho doanh nghiệp phát triển nhanh hơn.
Các nghị quyết, chính sách mới tạo nền tảng quan trọng cho cộng đồng doanh nghiệp, song tác động của chính sách thường có độ trễ. Vì vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị ngay từ bây giờ cho những cơ hội của 1-3 năm tới. Doanh nghiệp cần tìm kiếm sản phẩm phù hợp, tích lũy nguồn lực, giải mã và làm chủ công nghệ, kết nối đối tác, xây dựng mô hình kinh doanh và tìm kiếm thị trường. Đây là quá trình cần thời gian nên doanh nghiệp phải vừa học hỏi, vừa tích lũy kinh nghiệm, điều chỉnh chiến lược và từng bước xây dựng năng lực cạnh tranh.
"Nhìn về những tháng cuối năm 2026, có nhiều cơ sở để kỳ vọng vào đà tăng trưởng tích cực khi sản xuất, xuất khẩu và đầu tư cùng tạo động lực cho nền kinh tế. Về dài hạn, Việt Nam không chỉ cần một nền kinh tế có quy mô xuất khẩu hàng hóa lớn mà còn phải hướng tới khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đồng xuất khẩu. Muốn vậy, cần đồng thời mở rộng thị trường, nâng chất lượng sản phẩm, phát triển công nghệ và nâng cao năng lực của doanh nghiệp Việt Nam", ông Nguyễn Thường Lạng bày tỏ.
Phân loại sản phẩm thịt gà ở nhà máy của Công ty C.P Việt Nam, (Khu Công nghiệp Phú Nghĩa, xã Phú Nghĩa, thành phố Hà Nội). Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
Câu chuyện C.P. Việt Nam xuất khẩu lô thịt gà chế biến đầu tiên sang Hàn Quốc là một ví dụ rõ nét. Để bước qua cánh cửa của một thị trường có tiêu chuẩn cao, doanh nghiệp đã mất nhiều năm chuẩn bị, xây dựng chuỗi sản xuất khép kín từ thức ăn chăn nuôi, trang trại đến giết mổ, chế biến, đồng thời đáp ứng quy trình đánh giá nghiêm ngặt của phía Hàn Quốc. Giá trị của lô hàng vì vậy không chỉ nằm ở kim ngạch, mà ở việc một sản phẩm chăn nuôi trong nước đã được nâng cấp thành sản phẩm chế biến có khả năng đáp ứng yêu cầu quốc tế. Từ một lô hàng cụ thể có thể thấy, dư địa xuất khẩu còn rất lớn nếu doanh nghiệp chuyển từ bán nguyên liệu, sản phẩm sơ chế sang làm chủ chế biến, tiêu chuẩn, truy xuất và thương hiệu.
Đây cũng là lý do yêu cầu tổ chức lại nguồn lực đang trở nên quan trọng. Theo các chuyên gia, sản xuất, logistics, thương mại và xuất khẩu vốn không vận hành theo ranh giới hành chính, vì vậy cần chuyển từ phân bổ nguồn lực theo địa giới sang tổ chức nguồn lực theo hiệu quả phát triển. Với ngành công thương, điều đó phải được cụ thể hóa thành quản trị thống nhất không gian sản xuất - logistics - thị trường - xuất khẩu. Một vùng nguyên liệu tốt nhưng thiếu chế biến sẽ khó tạo giá trị cao; một nhà máy hiện đại nhưng công nghiệp hỗ trợ yếu sẽ khó nâng tỷ lệ nội địa hóa; một sản phẩm có thị trường nhưng chi phí logistics lớn cũng khó cạnh tranh. Nếu những mắt xích này được kết nối, lợi thế riêng lẻ của từng địa phương mới có thể trở thành sức mạnh chung của chuỗi xuất khẩu.
Theo các chuyên gia, các tháng cuối năm, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đặt ra yêu cầu duy trì đà tăng của xuất khẩu mà còn đòi hỏi những giải pháp đồng bộ từ Chính phủ, các bộ, ngành và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tạo thêm động lực mới cho nền kinh tế. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều bất định, việc giữ vững tốc độ tăng trưởng xuất khẩu không thể chỉ dựa vào lợi thế về thị trường hay chi phí sản xuất, mà cần được hỗ trợ bởi một môi trường kinh doanh thông thoáng, chính sách điều hành linh hoạt và năng lực cạnh tranh ngày càng cao của doanh nghiệp.
Chính phủ xác định nhiệm vụ trọng tâm trong những tháng cuối năm là tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời triển khai quyết liệt các giải pháp để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Trong đó, xuất khẩu tiếp tục được xác định là một trong những động lực tăng trưởng chủ lực, gắn với việc khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa Việt Nam.
Cùng với việc mở rộng thị trường, Chính phủ cũng yêu cầu đẩy mạnh phát triển sản xuất trong nước, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực đầu tư nước ngoài, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Đây là những giải pháp có ý nghĩa lâu dài, giúp nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng xuất khẩu bền vững.
Phân loại, cấp đông cá tra phi lê xuất khẩu tại nhà máy của Công ty CP Gò Đàng Tiền Giang (tỉnh Tiền Giang cũ). Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
Từ thực tiễn hoạt động của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực có thể thấy, để tận dụng được cơ hội từ quá trình hội nhập, doanh nghiệp không chỉ cần mở rộng thị trường mà còn phải nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đầu tư đổi mới công nghệ và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế.
Đại diện Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhấn mạnh: Kết quả đạt được đến thời điểm này đã tạo nền tảng tích cực để hoạt động xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, doanh nghiệp cần tiếp tục chủ động thích ứng, tận dụng hiệu quả các FTA với nhiều phương thức khác nhau. Trong đó, một trong những yếu tố quan trọng là doanh nghiệp phải đáp ứng được các quy tắc xuất xứ hàng hóa. Bởi chỉ khi đáp ứng được các quy tắc này, doanh nghiệp mới có điều kiện được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi thấp hơn so với mức thuế thông thường.
Cùng đó, các chương trình xúc tiến thương mại do Bộ Công Thương triển khai thời gian qua tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường và duy trì đơn hàng giúp dòng chảy thương mại toàn cầu ổn định hơn; chi phí logistics, vận tải, bảo hiểm và tài chính quốc tế giảm bớt; qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.