Hoạt động sản xuất của công nhân lao động Hà Nội. Ảnh tư liệu - minh họa: TTXVN
Đổi mới đào tạo và quản trị để bứt phá năng suất lao động quốc gia
Từ thực tiễn sản xuất, đời sống công nhân đến yêu cầu chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, các ý kiến tâm huyết đều cho rằng việc nâng cao năng suất không thể chỉ dựa vào nỗ lực của người lao động. Thay vào đó, cần xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ gồm đào tạo nghề hiện đại, chính sách tiền lương và phúc lợi phù hợp, môi trường làm việc an toàn, cùng cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo.
Theo Tiến sĩ Lê Đình Lương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay phần lớn công nhân chưa được đào tạo nghề một cách hệ thống. Nhiều người chỉ có trình độ phổ thông và thiếu cơ hội tiếp cận các chương trình đào tạo phù hợp. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến năng suất lao động quốc gia chưa đạt kỳ vọng. Ông Lương cũng cho rằng, khó khăn lớn hiện nay là các cơ sở đào tạo nghề còn xa khu vực tập trung đông công nhân, thiếu các khóa học linh hoạt dành cho người đang đi làm. Bên cạnh đó, một số chương trình đào tạo chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học và công nghệ. Vì vậy, cần đầu tư mạnh mẽ hơn cho giáo dục nghề nghiệp, phát triển đào tạo trực tuyến và khuyến khích doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực.
Dưới góc nhìn của người lao động trực tiếp sản xuất, ông Phạm Đình Duẩn – Anh hùng Lao động, Phó Trưởng phòng Điều khiển sản xuất, Công ty Cổ phần Than Vàng Danh, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã chia sẻ nhiều trăn trở cũng như kỳ vọng về câu chuyện nâng cao năng suất lao động quốc gia.
Theo ông Duẩn, mặc dù năng suất lao động của Việt Nam đã có những bước cải thiện đáng ghi nhận trong những năm gần đây, song nếu đặt trong tương quan so sánh với nhiều quốc gia trong khu vực châu Á, khoảng cách vẫn còn khá lớn. Các số liệu thống kê quốc tế năm 2025 cho thấy năng suất lao động của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 41% so với Malaysia, 26,5% so với Hàn Quốc, 24% so với Nhật Bản và hơn 11% so với Singapore.
Những con số ấy không chỉ là dữ liệu thống kê khô khan mà còn phản ánh nỗi trăn trở của những người lao động đang ngày ngày sản xuất. Mỗi người lao động đều suy nghĩ rất nhiều về thực trạng này, bởi năng suất lao động không chỉ phản ánh chất lượng công việc hay thu nhập của người công nhân, mà còn cho thấy khoảng cách về trình độ lao động giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển trong khu vực.
Ông Duẩn cho rằng, người lao động Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng vào khả năng vươn lên. Người Việt được đánh giá là cần cù, thông minh, ham học hỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của môi trường sản xuất hiện đại. Thực tế đã chứng minh rằng khi được làm việc trong điều kiện thuận lợi, được đào tạo bài bản và tiếp cận công nghệ tiên tiến, nhiều công nhân có thể đạt năng suất tương đương lao động ở các nước phát triển. Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp nước ngoài đánh giá cao lực lượng lao động Việt Nam.
Theo ông Duẩn, mặc dù yếu tố con người có vai trò quan trọng đối với năng suất lao động, nhưng nguyên nhân chính tạo nên khoảng cách hiện nay lại nằm ở trình độ công nghệ, mức độ cơ giới hóa, tự động hóa, năng lực quản trị và điều kiện tổ chức sản xuất. Vì vậy, để nâng cao năng suất lao động quốc gia cần có sự đồng hành từ nhiều phía: từ chính sách của Nhà nước, chiến lược phát triển của doanh nghiệp cho đến nỗ lực tự thân của mỗi người lao động.
Với bản thân mình, ông luôn xác định học tập và đổi mới là con đường quan trọng nhất để nâng cao năng suất lao động. Chính vì vậy, ông không ngừng trau dồi trình độ chuyên môn, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và chủ động tiếp cận công nghệ mới. Nhờ tinh thần đó, trong nhiều năm liên tiếp, ông luôn hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu được giao, đạt năng suất lao động từ 110% đến 150% kế hoạch.
Những nỗ lực ấy không chỉ thể hiện qua các con số về năng suất mà còn phản ánh rõ nét trong thu nhập. Trong khi mức thu nhập bình quân của Công ty Cổ phần Than Vàng Danh đạt khoảng 22,7 triệu đồng/người/tháng, thu nhập của cá nhân ông luôn ở mức từ 35 triệu đồng/tháng trở lên. Theo ông, đây là minh chứng rõ ràng cho thấy khi người lao động có ý thức phấn đấu, được làm việc trong môi trường thuận lợi và có cơ chế khuyến khích phù hợp thì cả năng suất lẫn thu nhập đều có thể được nâng cao.
Từ kinh nghiệm thực tiễn của mình, Anh hùng Lao động Phạm Đình Duẩn bày tỏ niềm tin rằng năng suất lao động của Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được những bước tiến mạnh mẽ hơn trong tương lai. Điều đó đòi hỏi mỗi người lao động phải không ngừng sáng tạo, chủ động học hỏi, vừa học vừa làm để nâng cao tay nghề, đồng thời cần có những chủ trương, chính sách đúng đắn từ Đảng, Nhà nước và doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện tốt nhất để phát huy năng lực.
Gỡ “nút thắt” từ tiền lương, phúc lợi và cơ chế khuyến khích sáng kiến
Đại biểu Hoàng Phúc Long, Chủ tịch Công đoàn Liên doanh Vietsovpetro, cho biết thời gian qua nhiều phong trào thi đua vẫn còn mang tính hình thức. Không ít sáng kiến có giá trị chưa được ghi nhận hoặc khen thưởng xứng đáng, khiến người lao động giảm động lực nghiên cứu và đổi mới. Ông đề xuất cần hoàn thiện cơ chế thưởng sáng kiến theo hướng công bằng, minh bạch và gắn chặt với giá trị thực tế mà sáng kiến mang lại.
Dưới góc độ đại diện người lao động, bà Nguyễn Thị Mai Chi, Chủ tịch Công đoàn cơ sở Công ty TNHH New Apparel Far Eastern Việt Nam thuộc Liên đoàn Lao động tỉnh Đồng Nai cho biết, dù nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước phát triển, đời sống của không ít công nhân vẫn còn khó khăn. Mức lương hiện nay chưa thực sự bảo đảm cuộc sống, khiến nhiều gia đình công nhân thiếu tích lũy và dễ rơi vào thế bị động khi gặp biến cố. Theo bà, khi người lao động luôn thường trực nỗi lo về thu nhập và chi phí sinh hoạt, họ khó có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, từ đó hạn chế khả năng sáng tạo và nâng cao năng suất lao động.
Từ thực tế đó, bà Chi kiến nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu chính sách tiền lương theo hướng bảo đảm mức sống tối thiểu; đẩy mạnh đầu tư nhà ở xã hội, trường học, nhà trẻ và các thiết chế phúc lợi nhằm giảm gánh nặng chi tiêu cho người lao động; đồng thời tạo điều kiện để tổ chức công đoàn thực hiện tốt vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động.
Đồng quan điểm về việc cải thiện điều kiện sống và làm việc của công nhân, bà Nguyễn Thị Thanh, Chủ tịch Công đoàn phường Ba Đình (Hà Nội) phản ánh thực trạng nhiều lao động ngoại tỉnh đang phải sinh sống trong các khu trọ chật hẹp với chi phí ngày càng tăng. Theo bà, việc phát triển nhà ở xã hội và các mô hình nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của người lao động là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm sức khỏe và khả năng tái tạo sức lao động.
Trong khi đó, ông Cao Minh Hòa, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần Sữa TH – cho rằng người lao động hiện còn đối mặt với nhiều rủi ro từ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đến các vấn đề an ninh tại nơi ở. Vì vậy, cần đầu tư đồng bộ hạ tầng khu công nghiệp, giao thông kết nối, các thiết chế văn hóa – xã hội và giải pháp bảo đảm an toàn cho người lao động cả trong và ngoài nơi làm việc.
Đằng sau những con số về năng suất lao động là câu chuyện về đời sống, thu nhập và khát vọng vươn lên của hàng triệu người lao động. Khi người lao động được bảo đảm mức sống, tiếp cận môi trường làm việc an toàn, hiện đại và có cơ hội phát triển nghề nghiệp, họ sẽ có thêm động lực để sáng tạo, cống hiến. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng để nâng cao năng suất lao động quốc gia, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững và hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Phát biểu tại Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng khẳng định vai trò nòng cốt của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số bền vững. Việc nâng cao năng suất lao động không chỉ là bài toán kinh tế đơn thuần mà còn là vấn đề sống còn về năng lực cạnh tranh quốc gia, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của toàn hệ thống chính trị để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển phồn vinh.
Chính phủ xác định mô hình phát triển mới phải dựa trên nền tảng chất lượng và tính bền vững, thay vì chỉ dựa vào tài nguyên hay lao động giá rẻ. Để tạo ra đột phá, mô hình phát triển trong giai đoạn mới dựa trên năm yếu tố quyết định: nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện. Thủ tướng khẳng định năng suất lao động là “thước đo hiệu quả nhất của chất lượng tăng trưởng” và là “chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực, trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia”.