Cắt giảm điều kiện kinh doanh cần thực chất, tránh phát sinh gánh nặng mới

Tiếp tục thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, chiều 5/8, tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI ghi nhận nhiều ý kiến đồng tình với chủ trương cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm tạo môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp.

Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Đoàn Cà Mau): Đừng để bỏ một giấy phép nhưng doanh nghiệp lại phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra

Chú thích ảnh
Đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau Nguyễn Duy Thanh phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Tôi cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Đầu tư. Việc tiếp tục cắt giảm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là đúng hướng, góp phần mở rộng quyền tự do kinh doanh và giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

Từ góc độ doanh nghiệp, tôi cho rằng kết quả cắt giảm phải được đo bằng thời gian và chi phí thực tế mà doanh nghiệp tiết kiệm được. Theo Báo cáo của Chính phủ, Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP  của Chính phủ về cắt giảm, sửa đổi ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đã cắt giảm 56 ngành, nghề và sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Dự thảo Luật lần này tiếp tục cắt giảm thêm 2 ngành, nghề và bổ sung 1 ngành, nghề mới. Dự thảo Phụ lục IV còn 141 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Số lượng ngành, nghề được đưa ra khỏi Danh mục là kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, điều doanh nghiệp quan tâm hơn là sau khi cắt giảm, đã giảm được bao nhiêu giấy phép, bao nhiêu thủ tục, bao nhiêu thời gian chờ đợi và bao nhiêu chi phí tuân thủ. Theo số liệu được công bố khi triển khai Chương trình cắt giảm thủ tục hành chính năm 2025, có 4.377 thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, 8.977 điều kiện kinh doanh và 640 chế độ báo cáo của doanh nghiệp; tổng chi phí tuân thủ được xác định ở mức hơn 120 nghìn tỷ đồng mỗi năm. Con số này cho thấy, nếu cắt giảm đi vào thực chất thì lợi ích mang lại cho nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp là rất lớn.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí thực hiện thủ tục không dừng ở lệ phí, mà còn gồm thời gian tìm hiểu quy định, chuẩn bị hồ sơ, đi lại và chi phí vốn trong thời gian chờ đợi. Một thủ tục kéo dài thêm vài tuần có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hợp đồng, vòng quay vốn và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.

Vì vậy, đề nghị sau khi Luật được ban hành, cần công khai một bảng đối chiếu thống nhất theo từng ngành, nghề, trong đó xác định rõ điều kiện, giấy phép và thủ tục nào được bãi bỏ; thời điểm áp dụng và cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện. Doanh nghiệp cần nhìn thấy và sử dụng ngay được kết quả cải cách, thay vì tiếp tục phải tự đối chiếu giữa nhiều văn bản.

Cùng đó, cần phải có công cụ quản lý thay thế phải sẵn sàng trước khi bãi bỏ điều kiện kinh doanh. Việc chuyển từ quản lý điều kiện gia nhập thị trường sang quản lý hoạt động sau gia nhập thị trường là định hướng rất phù hợp.

Tuy nhiên, theo Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, hồ sơ dự án Luật chưa làm rõ đầy đủ hiệu quả và tính khả thi của các công cụ quản lý thay thế, như tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, năng lực thanh tra, kiểm tra và chế tài xử lý vi phạm.

Bên cạnh đó, tôi đồng tình với yêu cầu chỉ chuyển sang hậu kiểm khi đã có công cụ quản lý đủ hiệu lực và có khả năng kiểm soát rủi ro. Việc đưa một ngành, nghề ra khỏi Phụ lục IV chưa chắc làm giảm gánh nặng nếu doanh nghiệp sau đó vẫn phải xin một giấy xác nhận khác, thực hiện một thủ tục có tên gọi khác hoặc đáp ứng các yêu cầu bắt buộc có bản chất tương tự điều kiện kinh doanh. Khoản 3 Điều 5 dự thảo Luật giao các bộ, cơ quan ngang bộ nghiên cứu, quy định giải pháp, phương án quản lý thay thế.

Tuy nhiên, quy định này còn chung, chưa xác định rõ thời hạn hoàn thành và trách nhiệm cụ thể đối với từng ngành, nghề. Đề nghị trước ngày Luật có hiệu lực (dự kiến ngày 01/3/2027), các bộ phải công khai phương án quản lý thay thế đối với các ngành, nghề thuộc phạm vi quản lý; xác định rõ công cụ hậu kiểm, cơ quan thực hiện, dữ liệu được sử dụng và tiêu chí phân loại rủi ro.

Việc kiểm tra phải dựa trên mức độ rủi ro và sử dụng dữ liệu dùng chung. Doanh nghiệp chấp hành tốt cần được giảm tần suất kiểm tra; doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro mới tập trung kiểm tra sâu. Không để doanh nghiệp bỏ được một giấy phép nhưng lại phải tiếp nhiều đoàn kiểm tra hoặc cung cấp lặp lại cùng một hồ sơ cho nhiều cơ quan.
Cắt giảm điều kiện kinh doanh chỉ thực sự có ý nghĩa khi doanh nghiệp giảm được thời gian, chi phí và Nhà nước vẫn kiểm soát được rủi ro bằng hậu kiểm có trọng tâm, hiệu quả.

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên (Đoàn Đồng Nai): Cần thận trọng khi cắt giảm điều kiện kinh doanh ở lĩnh vực nhạy cảm

Dự thảo Luật đưa 58 ngành, nghề ra khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và sửa đổi phạm vi 16 ngành nghề. Đây là một nỗ lực rất lớn của Chính phủ nhằm giảm thủ tục cho doanh nghiệp, tạo cơ chế thông thoáng cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở các ngành nghề không thật sự cần thiết phải đăng ký kinh doanh có điều kiện.

Chú thích ảnh
Quang cảnh phiên họp. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Mặc dù đã cắt giảm các ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm tạo thông thoáng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên là có những ngành nghề vẫn cần phải cân nhắc cho kỹ. Đặc biệt là những ngành nghề liên quan đến an ninh quốc gia, liên quan đến sức khỏe, tính mạng nhân dân. Trong đợt cắt giảm lần này có hai nhóm ngành là kinh doanh nước sạch và kinh doanh rượu được đưa ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Nếu việc quản lý hoạt động kinh doanh nước sạch hoặc rượu không chặt chẽ thì nguy cơ xảy ra các vụ nhiễm độc, ngộ độc hàng loạt là rất lớn. Vì vậy, đại biểu đề nghị đối với những lĩnh vực tác động trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của Nhân dân và giống nòi dân tộc cần cân nhắc kỹ cơ chế quản lý, không nên chỉ dựa vào hậu kiểm, bởi khi hậu quả đã xảy ra thì hậu kiểm không còn tác dụng.

Đại biểu Huỳnh Ngọc Liêm (Đoàn Lâm Đồng): Quản dòng tiền, không quản thương mại điện tử

Hiện nay nhiều nền tảng số không chỉ làm nhiệm vụ kết nối giữa người mua với người bán. Một số nền tảng còn trực tiếp nhận tiền, tạm giữ tiền, quyết định thời điểm thanh toán cho người bán, thực hiện hoàn tiền, phân chia tiền giữa các bên hoặc hình thành số dư nội bộ.

Về bản chất, đây không còn thuần túy là hoạt động cung cấp hạ tầng công nghệ. Khi một chủ thể có quyền trực tiếp nắm giữ và chi phối số tiền lớn của nhiều người sử dụng sàn mạng mới, thì chủ thể đó đã tham gia vào một khâu có mức độ rủi ro cao đối với thị trường.

Ví dụ, một người dân mua một chiếc điện thoại trên sàn giao dịch trực tuyến và thanh toán trước. Người bán giao hàng đúng cam kết nhưng khoản tiền chưa được chuyển ngay mà vẫn do nền tảng tạm giữ để đối soát. Nếu khoản tiền này không được tách biệt, bảo đảm và giám sát chặt chẽ, khi nền tảng gặp sự cố kỹ thuật, mất khả năng thanh toán hoặc gian lận, người bán có thể đã giao hàng nhưng chưa được nhận tiền, người mua có thể không được hoàn tiền nếu giao dịch bị hủy. Do đó, hàng nghìn giao dịch khác cũng có thể bị ảnh hưởng ở cùng một lúc.

Rủi ro này không nằm ở việc mua bán chiếc điện thoại, mà nằm ở chủ thể đang trực tiếp nắm giữ tiền của các giao dịch. Từ đó, loại hình này có thể phát sinh nguy cơ chiếm dụng vốn, lừa đảo, huy động vốn trái phép, rửa tiền, che giấu sở hữu để trục lợi.

Tuy nhiên, theo tôi không nên vì những rủi ro này mà đưa toàn bộ thương mại điện tử hoặc mọi giao dịch trực tuyến vào diện đầu tư kinh doanh có điều kiện. Luật Giao dịch điện tử có hiệu lực từ ngày 1/7/2024 và đang hình thành khung pháp lý riêng đối với nền tảng, người bán và các chủ thể tham gia giao dịch trực tuyến. Đồng thời, pháp luật ngân hàng hiện cũng đã quy định cơ chế cấp phép đối với hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

Vì vậy, vấn đề cần làm rõ không phải là mở rộng điều kiện kinh doanh cho thương mại điện tử nói chung, dàn trải, mà cần xác định chính xác khoảng trống giữa pháp luật về thương mại điện tử, pháp luật về thanh toán và Luật Đầu tư.

Tôi đề nghị cơ quan soạn thảo phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công Thương rà soát các mô hình nền tảng trực tiếp nhận hoặc tạm giữ tiền, tài sản của người sử dụng. Trường hợp hoạt động đó đã thuộc phạm vi điều chỉnh và cấp phép của pháp luật về ngân hàng, trung gian thanh toán thì không cần phải đưa vào Luật này. Nhưng nếu có nền tảng trực tiếp nắm giữ tiền của khách hàng mà chưa thuộc bất kỳ cơ chế cấp phép hoặc giám sát chuyên ngành nào, thì cần bổ sung chính vào hoạt động có rủi ro này vào Phụ lục 4.

Tên ngành nghề cần được thiết kế hẹp, rõ và có tiêu chí nhận diện cụ thể. Chẳng hạn, kinh doanh dịch vụ nền tảng trung gian trực tuyến trực tiếp nhận hoặc tạm giữ tiền, tài sản của người sử dụng để thực hiện bảo đảm hoặc quyết toán giao dịch, trừ trường hợp đã thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về ngân hàng và dịch vụ trung gian thanh toán.

Đồng thời, điều kiện kinh doanh không chỉ dừng ở một giấy phép mà phải tập trung vào các yêu cầu thực chất như: tách biệt khoản tiền của khách hàng với tài sản của doanh nghiệp; bảo đảm khả năng hoàn trả; lưu vết giao dịch và kiểm toán; xác định chủ sở hữu hưởng lợi; bảo vệ dữ liệu; trách nhiệm khi xảy ra sự cố hoặc mất khả năng thanh toán.

Điều cần quản lý không phải là thương mại điện tử, mà là quyền trực tiếp kiểm soát tiền, tài sản của người sử dụng. Cắt giảm điều kiện kinh doanh là cần thiết nhưng không để xuất hiện khoảng trống quản lý tại nơi đang tập trung dòng tiền của số lượng lớn người dân và doanh nghiệp.

Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát, đánh giá kỹ tác động và chỉ bổ sung vào Phụ lục 4 phần hoạt động thực sự có rủi ro chưa được pháp luật hiện hành điều chỉnh.

Thu Hằng - Bích Hồng (TTXVN)
Không tạo khoảng trống pháp lý khi cắt giảm các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Không tạo khoảng trống pháp lý khi cắt giảm các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Tiếp tục chương trình Kỳ họp, chiều 5/8, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục IV về danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN