Gỡ điểm nghẽn, bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng hai con số

Theo các chuyên gia, để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần đẩy nhanh phát triển nguồn và lưới điện, tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế, vốn, thủ tục và giải phóng mặt bằng, đồng thời nâng cao năng lực vận hành hệ thống điện.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số khoảng 30% GDP…

Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định là yêu cầu nền tảng. Điện phải “đi trước một bước”, bởi tăng trưởng nhanh, bền vững đòi hỏi hạ tầng năng lượng đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.

Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đến năm 2030 Việt Nam cần bổ sung gần 90.000 MW công suất nguồn điện mới và huy động khoảng 830.000 tỷ đồng vốn đầu tư. Trong khi nhiều dự án nguồn và lưới điện còn vướng cơ chế, vốn, giải phóng mặt bằng và tiến độ, nhu cầu điện được dự báo tăng 12-16% mỗi năm để đáp ứng tăng trưởng kinh tế hai con số.

Chú thích ảnh
Các đại biểu tham dự toạ đàm.

Chia sẻ tại Tọa đàm "Bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng hai con số" do Báo Công Thương tổ chức sáng 27/8, ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho biết, thực tế vận hành năm 2026 cho thấy, công suất cực đại của hệ thống điện quốc gia đã đạt mốc kỷ lục 58.500 MW trong đợt nắng nóng cao điểm cuối tháng 6.

Riêng khu vực miền Bắc đạt 30.200 MW với tốc độ tăng trưởng phụ tải đỉnh trên 14,4%. Theo tính toán của Công ty Vận hành hệ thống điện và Thị trường điện quốc gia (NSMO), với đà tăng trưởng hiện nay, công suất đỉnh toàn quốc đến năm 2030 có thể tiệm cận mốc 100.000 MW đến 110.000 MW, gấp đôi quy mô hiện tại.

Ông Nguyễn Quốc Trung cho biết, miền Bắc là khu vực chịu áp lực cung ứng điện lớn nhất do nguồn phát nội tại triển khai chậm, các đường dây truyền tải 500kV liên miền đã tiệm cận giới hạn vận hành. Đặc biệt, phụ tải miền Bắc rất nhạy cảm với nhiệt độ, đỉnh tiêu thụ lại rơi vào khoảng 21 giờ đến 23 giờ đêm, thời điểm điện mặt trời không còn phát điện.

Bên cạnh áp lực tăng phụ tải, việc đưa các dự án nguồn điện lớn vào vận hành cũng gặp không ít trở ngại. Nhằm đáp ứng mục tiêu quy hoạch, tổng công suất lắp đặt toàn hệ thống đến năm 2030 cần đạt từ 180.000 MW đến 220.000 MW, đồng nghĩa với việc phải bổ sung gần 90.000 MW nguồn điện mới cùng hệ thống lưới truyền tải đồng bộ. Tuy nhiên, nhiều dự án nguồn điện khí LNG và nhiệt điện quy mô lớn đang chịu rủi ro chậm tiến độ do vướng mắc về cơ chế đầu tư, đàm phán hợp đồng mua bán điện và thu xếp vốn.

Mặt khác, sự bùng nổ của các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời cũng đặt ra bài toán phức tạp về tính linh hoạt và ổn định động của hệ thống. Do không có quán tính tự nhiên như các nguồn nhiệt điện hay thủy điện truyền thống, việc tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao làm giảm khả năng chịu sự cố của lưới điện, đòi hỏi công tác điều độ phải nâng cao năng lực dự báo và trang bị các hệ thống giám sát hiện đại.

Để tháo gỡ các điểm nghẽn và chủ động kiểm soát rủi ro thiếu điện, Bộ Công Thương cùng các bộ, ngành liên quan đang khẩn trương cụ thể hóa các chỉ đạo của Trung ương, Quốc hội và Chính phủ. Trọng tâm là đẩy nhanh tiến độ điều chỉnh, cập nhật Quy hoạch điện VIII, ưu tiên đưa vào danh mục các dự án có tính khả thi cao, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư và chủ đầu tư cho các dự án lưới điện truyền tải.

Chú thích ảnh
Công nhân điện lực EVNHANOI kiểm tra hệ thống điện. Ảnh: TTXVN

Ông Bùi Quốc Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương nhấn mạnh: "Bộ Công Thương đang gấp rút rà soát, điều chỉnh cơ cấu nguồn điện giữa các vùng miền, đẩy nhanh việc ban hành khung giá phát điện cho năng lượng tái tạo năm 2026. Đồng thời hoàn thiện cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) nhằm tạo hành lang pháp lý minh bạch, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực xã hội đầu tư vào ngành điện".

Với vai trò nòng cốt trong việc bảo đảm an ninh năng lượng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã xây dựng kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026 - 2030 với tổng vốn lên tới 830.000 tỷ đồng. EVN tập trung hoàn thành 15 dự án nguồn điện trọng điểm với tổng công suất hơn 6.000 MW như Nhiệt điện Quảng Trạch 1, LNG Quảng Trạch 2, các dự án thủy điện mở rộng (Trị An, Tuyên Quang, Se San 3, Se San 4) và Thủy điện tích năng Bác Ái. Đồng thời, EVN dự kiến triển khai 2.000 MW hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) và đưa vào vận hành gần 300 dự án lưới điện truyền tải 220 - 500 kV.

Để bảo đảm tiến độ các dự án, ông Trịnh Quang Ninh, Phó trưởng Ban Kế hoạch, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đề xuất cần có cơ chế đặc thù rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư thông qua việc xử lý liên thông, song song các thủ tục về đất đai, quy hoạch và môi trường; đồng thời sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng là yếu tố then chốt.

Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc
Ứng dụng công nghệ số phát triển lưới điện thông minh
Ứng dụng công nghệ số phát triển lưới điện thông minh

Ngành điện đang đẩy mạnh hiện đại hóa hạ tầng, đưa chuyển đổi số trở thành động cơ then chốt để tái thiết toàn bộ năng lực điều hành hệ thống điện toàn quốc.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN