Chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chưa có dấu hiệu “hạ nhiệt”, thậm chí ngày có dấu hiệu gia tăng. Ảnh minh họa: TTXVN
Phát biểu tại một sự kiện diễn ra mới đây, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng: Tỷ trọng của khu vực FDI trong xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng lên trên 70% và chưa có dấu hiệu đảo chiều. Nếu xu hướng này tiếp tục, Việt Nam sẽ ngày càng khó thoát khỏi vị thế "công xưởng gia công" cho các tập đoàn đa quốc gia.
Báo cáo do Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài công bố mới đây cũng khẳng định, khu vực FDI chiếm từ 70-72% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Trước đó, báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính) cũng cho biết, 3 tháng năm 2026, xuất khẩu kể cả dầu thô của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt trên 98,4 tỷ USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Xuất khẩu không kể dầu thô ước đạt trên 98,2 tỷ USD, tăng 33,6% so với cùng kỳ, chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Cũng liên quan đến vấn đề xuất khẩu của khu vực FDI, TS. Bùi Thanh Minh, Phó Giám đốc, Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) cho rằng: Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có độ mở rất cao và quy mô xuất khẩu lớn, nhưng phần lớn năng lực xuất khẩu và thặng dư thương mại vẫn nghiêng mạnh về khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước; trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1% và chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 367,09 tỷ USD, tăng 26,1% và chiếm 77,3%. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỷ USD, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 49,46 tỷ USD.
Điều này cho thấy thành tích xuất khẩu của Việt Nam chưa phản ánh đầy đủ sức mạnh của khu vực doanh nghiệp nội địa. Trong nhiều ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, doanh nghiệp trong nước vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu có giá trị gia tăng thấp, trong khi những mắt xích có giá trị cao hơn vẫn tiếp tục tập trung chủ yếu ở khu vực FDI.
Số liệu trên càng chứng tỏ, tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chưa có dấu hiệu giảm. Tuy nhiên, theo ông Đậu Anh Tuấn, câu chuyện về FDI tại Việt Nam không chỉ là vấn đề tỷ trọng trong GDP hay xuất khẩu. Mà vấn đề sâu xa hơn là khu vực FDI đang nắm giữ gần như toàn bộ các khâu then chốt trong chuỗi sản xuất công nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam.
Dây chuyền sản xuất, lắp ráp linh kiện cho bếp gas của Công ty TNHH Paloma Việt Nam (vốn đầu tư của Nhật Bản) tại khu công nghiệp, đô thị VSIP Hải Phòng. Ảnh: Danh Lam/TTXVN
Cụ thể, trong ngành điện tử, Samsung và các nhà cung ứng Hàn Quốc chiếm phần lớn giá trị sản xuất và xuất khẩu. Trong ngành dệt may, da giày, phần giá trị gia tăng cao như thiết kế, thương hiệu, phân phối đều nằm ở tay doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia ở khâu gia công. Trong ngành chế biến gỗ, thủy sản, câu chuyện tương tự đang diễn ra khi doanh nghiệp FDI ngày càng mở rộng sang cả những phân khúc mà trước đây doanh nghiệp trong nước còn giữ được.
“FDI đang khai thác chính các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc là những thị trường mà Việt Nam có thặng dư thương mại lớn, nhưng phần lớn kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này do doanh nghiệp FDI thực hiện. Nói cách khác, Việt Nam đang cho mượn địa bàn sản xuất và các hiệp định thương mại tự do của mình để doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường toàn cầu, trong khi doanh nghiệp trong nước hưởng lợi chủ yếu ở phần giá trị gia tăng thấp nhất”, ông Đậu Anh Tuấn thông tin.
Cũng theo so sánh của ông Đậu Anh Tuấn, tại Trung Quốc, tỷ trọng FDI trong xuất khẩu đã giảm từ đỉnh 58% năm 2005 xuống 27% năm 2024, trong khi doanh nghiệp tư nhân nội địa từ con số không đã tăng lên chiếm 65%.
Tại Việt Nam, tỷ trọng FDI trong xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng lên trên 70% và chưa có dấu hiệu đảo chiều. Nếu xu hướng này tiếp tục, Việt Nam sẽ ngày càng khó thoát khỏi vị thế công xưởng gia công cho các tập đoàn đa quốc gia.
Đây là một thách thức với khu vực doanh nghiệp nội địa, bởi so với doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nội địa vẫn được đánh giá yếu và thiếu về quy mô, nguồn vốn, công nghệ và cả mạng lưới thị trường xuất khẩu.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân, cụ thể tại Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ban hành vào ngày 4/5/2025 đã đặt “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá… đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên thịnh vượng”.
Đặc biệt, mục tiêu đến năm 2045, kinh tế tư nhân phát triển nhanh, mạnh, bền vững, chủ động tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng toàn cầu; có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế, phấn đấu có ít nhất 3 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, đóng góp trên 60% GDP… thì việc tạo không gian cho khu vực tư nhân trong nước phát triển cần được quan tâm, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế tư nhân.
Liên quan đến vấn đề này, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng, Việt Nam không chỉ quan tâm đến gia tăng số lượng doanh nghiệp mà cần hình thành một lớp doanh nghiệp tư nhân có năng lực công nghệ, có khả năng dẫn dắt ngành, có vị thế trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Khi đó, khu vực kinh tế tư nhân mới thực sự chuyển từ vai trò tham gia tăng trưởng sang vai trò dẫn dắt hiện đại hóa.
Theo đó, một trong những giải pháp được PGS.TS Phạm Mạnh Hùng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng đưa ra đó là, ‘giải bài toán nguồn vốn cho các tập đoàn kinh tế Việt Nam”. Theo đó, việc giải quyết bài toán nguồn vốn cho các tập đoàn kinh tế Việt Nam cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, kết hợp giữa phát triển thị trường tài chính, nâng cao năng lực doanh nghiệp và vai trò điều phối của Nhà nước.
Bên cạnh bài toán vốn, TS. Bùi Thanh Minh cho rằng, để phát triển doanh nghiệp tư nhân trong nước, tạo ra các tập đoàn lớn đóng vai trò dẫn dắt, cần tạo đột phá từ thể chế kiến tạo. Một môi trường phát triển lành mạnh cho các tập đoàn kinh tế chủ lực không thể hình thành nếu quyền tài sản chưa được bảo đảm đầy đủ, quyền tự do kinh doanh còn bị hạn chế bởi các rào cản hành chính, và chi phí tuân thủ vẫn bị đẩy lên bởi tình trạng chồng chéo, phân tán và thiếu nhất quán của hệ thống pháp luật.
Theo đó, cải cách thể chế trong giai đoạn tới phải hướng tới việc thiết lập một khuôn khổ minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo cao; trong đó, doanh nghiệp lớn lên bằng năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực, chứ không phải bằng phương thức tiếp cận đặc quyền hay quan hệ hành chính.
“Cùng với đó, cần mở đường về mặt pháp lý cho quá trình tích tụ và tập trung nguồn lực theo cơ chế thị trường, coi đây là điều kiện thiết yếu để hình thành các doanh nghiệp có quy mô đủ lớn trong những ngành đòi hỏi vốn cao, công nghệ cao và tầm nhìn đầu tư dài hạn”, TS. Bùi Thanh Minh nêu quan điểm.