Đột phá thể chế khoa học và công nghệ - Bài 2: Đưa nghiên cứu ra thị trường

Từ nền tảng pháp lý mới, bài toán đặt ra không còn là “bảo hộ được hay không” mà là làm thế nào để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Các cơ chế về chuyển giao công nghệ, góp vốn bằng tài sản trí tuệ và thử nghiệm có kiểm soát đang từng bước tháo gỡ những rào cản lâu nay, mở đường cho dòng chảy tri thức đi vào sản xuất - kinh doanh, đặc biệt tại TP Hồ Chí Minh.

Gỡ rào cản pháp lý, khơi thông dòng chảy công nghệ

Trước thời điểm ngày 1/4/2026, nhiều kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước chưa thể đưa vào thực tiễn do vướng các quy định về quản lý tài sản công, thủ tục định giá phức tạp và cơ chế phân chia lợi ích chưa phù hợp. Không ít đề tài sau khi nghiệm thu vẫn dừng lại ở báo cáo, chưa được khai thác trong sản xuất - kinh doanh.

Chú thích ảnh
Các quy định mới về SHTT được kỳ vọng rút ngắn thời gian thẩm định, nâng cao hiệu quả bảo hộ sáng chế và nhãn hiệu.

Số liệu từ Đề án thí điểm thương mại hóa kết quả nghiên cứu của TP Hồ Chí Minh cho thấy, quy mô của điểm nghẽn này lớn hơn nhiều so với nhận định cảm tính. Trong giai đoạn 2014 - 2018, thành phố có 1.587 nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu, tương đương hơn 300 đề tài mỗi năm. Tuy nhiên, tỷ lệ được thương mại hóa chỉ đạt khoảng 10 - 13%.

Đáng chú ý, có tới 37% kết quả nghiên cứu đã hoàn thiện và sẵn sàng chuyển giao nhưng vẫn chưa thể đưa vào thực tiễn, trong khi khoảng 50% vẫn dừng ở quy mô phòng thí nghiệm và cần tiếp tục thử nghiệm ở giai đoạn pilot. Tính chung, tỷ lệ thương mại hóa các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước hiện chỉ đạt khoảng 5%.

Theo ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) TP Hồ Chí Minh, điều đáng quan tâm không chỉ nằm ở tỷ lệ thương mại hóa thấp mà ở “vùng kẹt” lên tới 37% - nơi các kết quả nghiên cứu đã sẵn sàng chuyển giao nhưng không thể bước ra thị trường. Đây được xem là phần “lãng phí vô hình” lớn nhất của hệ thống khoa học và công nghệ hiện nay.

Nguyên nhân trước hết đến từ rào cản thể chế. Việc định giá tài sản trí tuệ vẫn thiếu chuẩn mực rõ ràng, khiến cơ quan quản lý và đơn vị nghiên cứu e ngại rủi ro pháp lý trong quá trình quyết định chuyển giao. Không ít trường hợp lựa chọn phương án an toàn là trì hoãn hoặc không thực hiện giao quyền, khiến kết quả nghiên cứu bị “mắc kẹt”.

Chú thích ảnh
Kết quả khảo sát mức độ sẵn sàng cho thương mại hóa kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu giai đoạn 2014 - 2018 (Nguồn: Trung tâm Thông tin và Thống kê khoa học và công nghệ - Sở Khoa học và Công nghệ)

Bên cạnh đó, cơ chế phân chia lợi ích chưa đủ hấp dẫn cũng làm giảm động lực thương mại hóa. Nhà khoa học thiếu động lực đưa sản phẩm ra thị trường, trong khi doanh nghiệp chưa sẵn sàng tham gia từ đầu do phải gánh rủi ro lớn nhưng quyền kiểm soát còn hạn chế. Khoảng trống này khiến mối liên kết “Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp” chưa hình thành được chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Một điểm nghẽn khác nằm ở giai đoạn chuyển tiếp - nơi sản phẩm cần được hoàn thiện, thử nghiệm và chứng minh hiệu quả trước khi thương mại hóa. Đây lại là giai đoạn thiếu nguồn lực tài chính nhất, khi ngân sách nhà nước thường dừng ở nghiên cứu, còn doanh nghiệp chỉ đầu tư khi rủi ro đã giảm đáng kể. Hệ quả là nhiều công nghệ rơi vào “thung lũng chết”, không thể tiến thêm bước cuối cùng để trở thành sản phẩm thương mại.

Theo TS. Châu Quốc An, giảng viên Khoa Luật Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh (UEF), trở ngại lớn nhất không nằm ở năng lực nghiên cứu mà đến từ tâm lý e ngại rủi ro pháp lý.

Ông Quốc An cho biết, các quy định trước đây liên quan đến tài chính và thủ tục hành chính còn phức tạp, đặc biệt trong khâu giải ngân kinh phí cho các đề tài có yếu tố thương mại hóa. “Yêu cầu hoàn trả ngân sách, cùng với quy trình định giá tài sản trí tuệ kéo dài và cơ chế phân chia lợi nhuận còn cứng nhắc đã làm giảm đáng kể động lực tham gia của doanh nghiệp”, ông Quốc An nhận định.

Thực tế này khiến nhiều doanh nghiệp dù có nhu cầu tiếp nhận công nghệ vẫn lựa chọn phương án tự phát triển hoặc tìm kiếm giải pháp từ bên ngoài, thay vì hợp tác với các tổ chức nghiên cứu trong nước. Nguyên nhân không chỉ nằm ở yếu tố kỹ thuật mà còn do những rủi ro phát sinh từ các thủ tục pháp lý và tài chính.

Trong bối cảnh đó, việc sửa đổi các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ được kỳ vọng sẽ từng bước tháo gỡ các điểm nghẽn. Theo đó, kết quả nghiên cứu không còn chỉ được nhìn nhận dưới góc độ nhiệm vụ khoa học mà được coi là một loại tài sản có thể khai thác và đưa vào sử dụng.

Chú thích ảnh
Một gian hàng giới thiệu giải pháp công nghệ tại triển lãm.

Đáng chú ý, tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu giảm thiểu rủi ro pháp lý trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, đặc biệt đối với các trường hợp phát sinh thiệt hại do nguyên nhân khách quan. Đây được xem là cơ sở quan trọng để các nhà khoa học mạnh dạn hơn trong việc triển khai các ý tưởng đổi mới.

Bên cạnh đó, các mô hình chuyển giao công nghệ cũng đang được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Doanh nghiệp có thể tiếp cận công nghệ theo từng giai đoạn, từ thử nghiệm đến hoàn thiện trước khi quyết định đầu tư chính thức.

Cách tiếp cận này giúp giảm đáng kể rủi ro cho cả bên chuyển giao và bên tiếp nhận, đồng thời tạo điều kiện để công nghệ được kiểm chứng trong môi trường thực tế trước khi triển khai ở quy mô lớn.

Ngoài ra, việc hoàn thiện cơ chế phân chia lợi ích giữa các bên tham gia cũng góp phần tạo động lực cho quá trình chuyển giao. Khi quyền lợi được xác định rõ ràng, các chủ thể từ nhà khoa học, tổ chức nghiên cứu đến doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc hợp tác.

Cơ chế mới và thực tiễn triển khai

Từ những thay đổi trong khung pháp lý, nhiều cơ chế mới đang được triển khai nhằm thúc đẩy quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Một trong những điểm đáng chú ý là sự xuất hiện của các mô hình chuyển giao linh hoạt.

Trong đó, cơ chế chuyển giao công nghệ tạm thời cho phép doanh nghiệp tiếp cận và thử nghiệm công nghệ trong một khoảng thời gian nhất định trước khi đưa ra quyết định đầu tư chính thức. Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu rủi ro, đồng thời nâng cao khả năng thương mại hóa thành công.

Bên cạnh đó, hình thức chuyển giao công nghệ theo kết quả cũng được ghi nhận, với việc xác định giá trị hợp đồng dựa trên mức độ đạt được của các chỉ tiêu kỹ thuật, môi trường và hiệu quả kinh tế, thay vì định giá cứng ngay từ đầu.

Chú thích ảnh
Lãnh đạo các Sở, ngành và doanh nghiệp đang chia sẻ các giải pháp công nghệ.

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), cùng với các chính sách ưu đãi về khấu hao tài sản công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận công nghệ mới, tiếp tục đóng vai trò là công cụ thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Một điểm đột phá khác là việc luật hóa cơ chế góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ. Luật sư Hà Thị Ngọc, Giám đốc Công ty TNHH Trí tuệ Interbra, cho rằng đây là công cụ quan trọng giúp chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế cụ thể, đồng thời tạo điều kiện để nhà khoa học tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Thêm vào đó, việc trao quyền chủ động hơn cho các tổ chức nghiên cứu, trường đại học trong quản lý, định giá và chuyển giao tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước cũng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy sự hình thành các doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off).

Liên quan đến nội dung này, TS. Châu Quốc An cho rằng, việc trao quyền cho đơn vị chủ trì giúp giảm đáng kể tâm lý e ngại rủi ro pháp lý của nhà nghiên cứu. Khi quyền sở hữu được xác lập rõ ràng, nhà khoa học có thể tập trung vào chuyên môn mà không phải trực tiếp xử lý các thủ tục hành chính phức tạp.

Trong thực tiễn, TP Hồ Chí Minh đang là địa phương đi đầu trong việc triển khai các cơ chế này. Thành phố đã thí điểm thương mại hóa 54 sản phẩm khoa học và công nghệ với tổng vốn đầu tư hơn 500 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng ứng dụng cao.

Bên cạnh đó, TP Hồ Chí Minh đang chuẩn bị ra mắt quỹ đầu tư mạo hiểm theo mô hình hợp tác công - tư, trong đó vốn nhà nước dự kiến chiếm tối đa 40%. Đây được xem là công cụ tài chính quan trọng nhằm hỗ trợ các dự án đổi mới sáng tạo trong giai đoạn đầu.

Chú thích ảnh
Cơ chế đột phá của Quỹ đầu tư mạo hiểm TP Hồ Chí Minh.

Sàn giao dịch công nghệ thế hệ mới cũng bước đầu ghi nhận các hợp đồng chuyển giao với giá trị hàng chục tỷ đồng, cho thấy nhu cầu giao dịch công nghệ đang dần hình thành rõ nét.

Song song đó, thành phố tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng hạ tầng 5G, nâng cao tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến và thử nghiệm các công nghệ mới như thiết bị bay không người lái (UAV), tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng và lan tỏa các kết quả nghiên cứu.

Có thể thấy, từ cơ chế đến thực tiễn, quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường đang dần được định hình rõ hơn. Tuy nhiên, để các chính sách này phát huy hiệu quả, vẫn cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn, đặc biệt trong lĩnh vực định giá tài sản trí tuệ và đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Bài cuối: Tài sản trí tuệ thành đòn bẩy tài chính

Bài và ảnh: Lưu Niệm/Báo Tin tức và Dân tộc
Đột phá theo Nghị quyết 57: Tây Ninh quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc thực hiện
Đột phá theo Nghị quyết 57: Tây Ninh quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn, tăng tốc thực hiện

Chiều 2/4, Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh Nguyễn Văn Quyết chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo tỉnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cuộc họp tập trung đánh giá kết quả triển khai, chỉ rõ những hạn chế; đồng thời đề ra giải pháp trọng tâm nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thời gian tới.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN