Scott O’Grady vẫy chào những người xung quanh khi đến Italy sau khi được giải cứu vào tháng 6/1995. Ảnh: Getty Images
Theo trang sofrep.com, Bosnia-Herzegovina là nơi diễn ra những trận giao tranh khốc liệt nhất, khiến gần 100.000 người thiệt mạng. Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) can dự từ năm 1992, áp đặt vùng cấm bay. Năm 1995, một tên lửa phòng không của Serbia phá hủy một chiếc F-16 do đại úy Không quân Mỹ Scott O’Grady điều khiển. O’Grady thoát hiểm và lẩn tránh trong gần một tuần cho đến khi lực lượng mặt đất Thủy quân Lục chiến Mỹ giải cứu vào ngày 8/6.
O’Grady sinh tại thành phố New York vào tháng 10/1965. Ông muốn trở thành phi công từ khi còn nhỏ. Ông gia nhập Lực lượng Tuần tra Hàng không Dân sự Mỹ và có bằng lái máy bay khi vẫn còn là thiếu niên.
Ông theo học Đại học Hàng không Embry-Riddle tại Prescott (bang Arizona), tham gia chương trình ROTC và đặt mục tiêu trở thành phi công tiêm kích của Không quân Mỹ. Sau khi tốt nghiệp đứng đầu khóa đào tạo trong Không quân Mỹ, ông được giao nhiệm vụ học lái F-16. Ông thực hiện các nhiệm vụ bay gần Khu phi quân sự (DMZ) ở Hàn Quốc. Sau đó, khi được điều động tới Đức, O’Grady và phi đội của ông tuần tra các vùng cấm bay trên bầu trời Iraq.
Sau đó, O’Grady được điều chuyển đến Aviano, Italy. Thời điểm đó, các phi công NATO được giao nhiệm vụ hỗ trợ lực lượng mặt đất của NATO tại Bosnia. Năm 1994, O’Grady tham gia nhiệm vụ không chiến đầu tiên của NATO. Trong ngày đó, phi công trên chiếc máy bay hỗ trợ là Đại úy Robert Wright đã bắn hạ ba máy bay Serbia.
Hơn một năm sau, ngày 2/6/1995, O’Grady và Wright tiếp tục bay trên bầu trời Bosnia thì thảm họa xảy ra. Hai phi công biết về các trận địa phòng không cố định dưới mặt đất, nhưng một trận địa phòng không cơ động SA-6, từng được máy bay trinh sát U-2 phát hiện, lại không được truyền thông tin tới họ.
Lực lượng Serbia phóng tên lửa khi hai máy bay gần như bay qua đầu, nhưng họ không bật radar dẫn bắn cho đến khi tên lửa gần chạm mục tiêu nhằm trì hoãn thời gian phản ứng của các F-16. Tên lửa thứ nhất phát nổ giữa hai máy bay. Tên lửa SA-6 thứ hai lao trúng chiếc F-16 của O’Grady ngay phía sau buồng lái.
Wright nhìn thấy vụ nổ và thấy chiếc F-16 của O’Grady vỡ làm đôi nhưng không thấy dù. Tuy nhiên, O’Grady đã kịp phóng ghế thoát hiểm và bung dù. Do độ cao lớn, ông mất gần 25 phút mới tiếp đất. Lực lượng Serbia lập tức được điều đi tìm ông.
Sau khi tiếp đất, O’Grady bị bỏng ở vai do vụ nổ, ông lấy thiết bị sinh tồn và chạy vào rừng để tránh lực lượng truy tìm. Một người đàn ông và một cậu bé đi truy tìm ông chỉ cách điểm tiếp đất khoảng 2 mét.
Lực lượng Serbia, với sự hỗ trợ của trực thăng, bay sát đến mức ông có thể nhìn rõ khuôn mặt phi công. Binh sĩ nhiều lần nổ súng vào rừng gần nơi ông ẩn náu nhằm buộc ông lộ diện.
Dựa vào khóa huấn luyện SERE (Sinh tồn, Lẩn tránh, Kháng cự và Thoát hiểm) trong Không quân Mỹ, O’Grady ẩn náu ban ngày và chỉ di chuyển vào ban đêm. Ông chỉ sử dụng bộ đàm sinh tồn trong những khoảng phát tín hiệu ngắn để tránh bị phát hiện. Nguồn nước và lương thực ít ỏi của ông nhanh chóng cạn kiệt.
Mưa trút xuống liên tục. O’Grady dùng miếng bọt biển để hứng nước mưa và cho vào túi nhựa. Tuy nhiên, mưa khiến ông ướt sũng và bị bệnh “chân hào” do ẩm ướt kéo dài. Ông buộc phải ăn lá cây, côn trùng, cỏ và các loài khác để duy trì sự sống.
Đêm thứ sáu, khoảng nửa đêm ngày 8/6, O’Grady liên lạc được với một chiếc F-16 khác trong phi đội của mình có mật danh Basher 5-2. Phi công này, trong tình trạng máy bay sắp hết nhiên liệu, xác nhận danh tính của ông và chuyển thông tin cho lực lượng Mỹ và NATO hoạt động trong khu vực.
Đại tá Thủy quân Lục chiến Mỹ Martin Berndt trên tàu sân bay USS Kearsarge nhận lệnh thực hiện nhiệm vụ giải cứu. Lực lượng Thủy quân Lục chiến triển khai hai trực thăng CH-53 Sea Stallion, hai trực thăng vũ trang Super Cobra và hai máy bay AV-8 Harrier hỗ trợ. Ngoài ra còn có lực lượng dự bị tương tự. Lực lượng giải cứu còn có hai máy bay tác chiến điện tử EA-6B Prowler của Hải quân, hai máy bay tác chiến điện tử EF-111A Raven của Không quân, hai máy bay F/A-18D Hornet của Thủy quân Lục chiến, một cặp máy bay tấn công mặt đất A-10 Thunderbolt của Không quân, một trực thăng SH-60B từ tàu USS Ticonderoga (CG-47), cùng một máy bay radar cảnh báo sớm AWACS của NATO bay hỗ trợ nhiệm vụ.
Lúc 6 giờ 35 phút, các trực thăng Sea Stallion tiếp cận khu vực nơi tín hiệu định vị của O’Grady được xác định. Đây là thời điểm nguy hiểm nhất khi ông bắn khói vàng để đánh dấu vị trí.
Các phi công nhìn thấy khói vàng bốc lên từ rừng và chiếc Sea Stallion đầu tiên hạ cánh với 20 lính Thủy quân Lục chiến thiết lập vòng phòng thủ. Khi chiếc trực thăng thứ hai vừa hạ cánh, O’Grady, vẫn đội mũ bay, lao ra khỏi rừng, cầm súng ngắn chạy về phía lực lượng này. Nhóm Thủy quân Lục chiến thứ hai thậm chí không cần rời khỏi trực thăng. Họ nhanh chóng tập hợp lại và cất cánh. Tổng thời gian trên mặt đất chưa đến 7 phút.
Ngay cả sau khi được Thủy quân Lục chiến Mỹ giải cứu ra khỏi ngọn núi, O’Grady vẫn chưa an toàn. Khi ngồi trên trực thăng rời khỏi khu vực chiến sự trong tình trạng run rẩy, đói và mất nước, chiếc trực thăng của ông cùng một chiếc khác trong đội giải cứu đã hứng hỏa lực từ mặt đất, phòng không và tên lửa. Một viên đạn bật khỏi bình nước của một lính Thủy quân Lục chiến ngồi cách ông vài bước.
O’Grady chỉ ở lại tàu USS Kearsarge trong hai ngày để điều trị rồi nhanh chóng trở về Mỹ để cổ vũ tinh thần cho người dân Mỹ vừa trải qua nhiều sự kiện đau thương, nhất là vụ đánh bom tòa nhà liên bang ở thành phố Oklahoma khiến 168 người chết.
Tháng 9 năm đó, ông gia nhập lực lượng dự bị Không quân và đóng quân tại Utah trước khi rời quân ngũ.