Học sinh Trường tiểu học Nguyễn An Ninh, tỉnh Đồng Nai thực hiện bài tập nhóm STEM trên lớp. Ảnh: Lê Xuân/TTXVN
Từ nền tảng năm học 2025-2026 đến những chuyển biến thực chất
Báo cáo tại Hội nghị Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, năm học 2025-2026 diễn ra trong bối cảnh ngành vừa thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên, vừa tổ chức vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp và triển khai nhiều chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Toàn ngành đã nỗ lực đổi mới phương thức quản lý, tập trung nguồn lực, tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ, giải pháp được giao tại Nghị quyết số 71-NQ/TW và các nghị quyết chiến lược của Đảng. Những kết quả đạt được tạo nền tảng quan trọng để thực hiện mục tiêu đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới.
Một trong những điểm nhấn nổi bật là công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được đẩy mạnh. Trong năm học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Quốc hội 3 luật, 2 nghị quyết; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ 20 nghị định, 2 nghị quyết, 12 quyết định và chỉ thị. Nội dung tập trung vào các vấn đề then chốt như phân cấp, phân quyền; chính sách đối với nhà giáo và người học; phổ cập giáo dục mầm non; quản lý dữ liệu giáo dục; giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương hai cấp được triển khai tích cực. Các địa phương từng bước tiếp nhận, tổ chức thực hiện những nhiệm vụ được phân quyền, góp phần nâng cao tính linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng địa bàn và bảo đảm hoạt động giáo dục diễn ra thông suốt.
Quy mô và cơ hội tiếp cận giáo dục tiếp tục được mở rộng. Nhiều chính sách hỗ trợ người học được triển khai như miễn học phí, miễn phí sách giáo khoa, hỗ trợ bữa ăn bán trú, học bổng và tín dụng. Các địa phương tập trung mở rộng mạng lưới trường lớp, tuyển dụng giáo viên, đổi mới tuyển sinh đầu cấp. Tổng chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027 tăng khoảng 10%, đạt 79,3% số học sinh lớp 9. Cả 34 tỉnh, thành phố đã ban hành kế hoạch triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và đăng ký lộ trình đạt chuẩn vào năm 2030.
Chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên tiếp tục được củng cố. Các địa phương triển khai ổn định Chương trình giáo dục mầm non và Chương trình giáo dục phổ thông 2018; chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá, giáo dục STEM, ngoại ngữ, năng lực số, hướng nghiệp và phân luồng.
Việc xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền cũng được triển khai quyết liệt. Các địa phương tổ chức chiến dịch, huy động nguồn lực để hoàn thành các công trình giai đoạn 1 trước ngày 30/8/2026. Đây không chỉ là nhiệm vụ đầu tư cơ sở vật chất mà còn là chính sách tổng thể nhằm bảo đảm quyền học tập, cải thiện điều kiện sống và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới.
Chuyển đổi số trong giáo dục chuyển từ giai đoạn xây dựng nền tảng sang khai thác dữ liệu và cung cấp dịch vụ thực chất. Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo đã được đưa vào vận hành, tích hợp 5 cơ sở dữ liệu lớn, quản lý thông tin của khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, 27 triệu học sinh và 1,4 triệu giáo viên. Toàn ngành đã tạo lập trên 10,3 triệu học bạ số và 1,2 triệu văn bằng số; trong đó hơn 9,6 triệu học bạ và 800.000 văn bằng được đồng bộ lên VNeID.
Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành Giáo dục vẫn đối mặt nhiều khó khăn. Điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục còn thiếu và chênh lệch lớn giữa các địa bàn. Nhiều nơi thiếu phòng học, phòng chức năng, thiết bị dạy học và giáo viên; trong khi một số đô thị, khu công nghiệp xảy ra tình trạng quá tải cục bộ. Việc vận hành chính quyền địa phương hai cấp phát sinh những bất cập ban đầu trong phân định trách nhiệm và phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Chuyển đổi số chưa đồng đều, dữ liệu ở một số nơi chưa được cập nhật đầy đủ, hạ tầng và nhân lực công nghệ còn chênh lệch.
Công tác bảo đảm an toàn trường học và kỷ cương thi cử vẫn còn những sơ hở. Bạo lực học đường, thuốc lá điện tử, nguy cơ ma túy và các hành vi bắt nạt trên không gian mạng tiếp tục diễn biến phức tạp. Những vi phạm nghiêm trọng tại một số điểm thi trong Kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm 2026 cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tăng cường quản trị rủi ro, kiểm soát trách nhiệm cá nhân và chủ động phòng ngừa gian lận.
Từ những kết quả và hạn chế đó, năm học 2026-2027 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 71-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW. Với chủ đề "Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất", toàn ngành tiếp tục chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển đội ngũ, tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng AI an toàn, có trách nhiệm.
Khẩn trương sắp xếp mạng lưới trường học
Một trong những nhiệm vụ đang được các địa phương khẩn trương triển khai trước thềm năm học mới là rà soát, xây dựng và hoàn thiện phương án sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập. Đây là yêu cầu gắn trực tiếp với mục tiêu tinh gọn đầu mối, sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo và nâng cao hiệu quả quản trị trường học.
Tuy nhiên, yêu cầu xuyên suốt trong quá trình sắp xếp là không làm gián đoạn việc học tập, không ảnh hưởng đến quyền tiếp cận giáo dục của học sinh. Các phương án phải được xây dựng trên cơ sở rà soát toàn diện quy mô học sinh, điều kiện kinh tế - xã hội, mạng lưới trường lớp và khả năng tổ chức thực hiện của từng địa phương.
Tại Quảng Trị, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành và chính quyền địa phương khẩn trương hoàn thiện phương án sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập, phấn đấu giảm tối thiểu 50% số đầu mối so với thời điểm ngày 1/7/2025. Tỉnh đặt mục tiêu hoàn thành việc sắp xếp trước ngày 10/8/2026 để ổn định tổ chức, đội ngũ, cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm cho năm học mới.
Phương án sắp xếp được đặt trong yêu cầu rà soát tổng thể, không chỉ tính đến số lượng đầu mối mà còn phải bảo đảm sự phù hợp với đặc điểm dân cư, địa hình và điều kiện đi lại của học sinh. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với các địa bàn miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi có khoảng cách giữa các khu dân cư lớn.
Tại Cao Bằng, việc sắp xếp mạng lưới trường lớp gắn với nhiệm vụ đưa 11 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới vào hoạt động. Theo phương án của ngành Giáo dục và Đào tạo, số đầu mối cơ sở giáo dục công lập toàn tỉnh dự kiến giảm từ 514 xuống còn 321, giảm 193 cơ sở.
Việc tổ chức lại mạng lưới tại địa phương này được triển khai trong mối liên hệ với yêu cầu bảo đảm điều kiện học tập, ăn ở, sinh hoạt cho học sinh vùng biên giới. Vì vậy, sắp xếp trường học không chỉ là giảm số lượng đầu mối mà còn gắn với việc hình thành những mô hình trường học phù hợp hơn, tập trung nguồn lực và nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ giáo dục ở những địa bàn còn khó khăn.
Tại Đắk Lắk, toàn tỉnh hiện có 1.238 cơ sở giáo dục công lập. Qua thẩm định, Sở Giáo dục và Đào tạo đề xuất giảm 690 trường, tương đương 55,7%, đồng thời hình thành thêm các trường liên cấp phù hợp với điều kiện từng địa bàn.
Ở Nghệ An, các địa phương đang khẩn trương hoàn thiện phương án theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Xã Đô Lương dự kiến giảm số trường từ 25 xuống 13. Trong khi đó, tại các địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa như Nga My, địa phương chủ trương giảm đầu mối nhưng vẫn giữ các phân hiệu, điểm trường lẻ ở những nơi khoảng cách đi lại quá xa, bảo đảm học sinh được học gần nơi cư trú.
Như vậy, yêu cầu sắp xếp mạng lưới trường học không thể thực hiện theo một mô hình thống nhất cho mọi địa bàn. Nếu ở khu vực có điều kiện giao thông thuận lợi, quy mô dân cư tập trung, việc tổ chức lại trường lớp có thể hướng tới những mô hình tập trung, thì tại vùng miền núi, việc duy trì phân hiệu, điểm trường lẻ có thể là giải pháp cần thiết để bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục.
Tại Phú Thọ, tỉnh đặt mục tiêu giảm tối thiểu trên 40% số đầu mối cơ sở giáo dục công lập; riêng các cấp học từ Trung học cơ sở trở xuống phấn đấu giảm khoảng 50%. Tuy nhiên, việc sắp xếp được yêu cầu không thực hiện cơ học, hạn chế tối đa thay đổi địa điểm học tập của học sinh và xáo trộn đội ngũ nhà giáo. Khu vực đô thị, đồng bằng ưu tiên mô hình trường một cấp học; miền núi, vùng sâu, vùng xa ưu tiên mô hình trường liên cấp.
Thực tế triển khai cho thấy, sắp xếp mạng lưới trường học là nhiệm vụ có khối lượng lớn, liên quan trực tiếp đến tổ chức bộ máy, đội ngũ, cơ sở vật chất và việc học tập của hàng triệu học sinh. Vì vậy, các địa phương đang chạy đua với thời gian để hoàn thiện phương án trước thềm năm học mới. Song, tinh thần xuyên suốt của quá trình này là sắp xếp phải khoa học, phù hợp thực tiễn, tạo sự đồng thuận, tinh gọn đầu mối nhưng phải đi liền với nâng cao chất lượng giáo dục.
Đây cũng chính là bước cụ thể hóa yêu cầu của Nghị quyết 71 trong thực tiễn: đổi mới tư duy quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực, khắc phục những bất cập về mạng lưới trường lớp và tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục hoạt động hiệu quả hơn. Mục tiêu cuối cùng là sau sắp xếp, hệ thống giáo dục được tổ chức hợp lý hơn, nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn và học sinh được hưởng lợi nhiều hơn.