Đổi mới đào tạo nhân lực sẵn sàng cho các dự án đường sắt tốc độ cao

Để cùng  hiểu rõ hơn về ngành học đang hiện thực hóa Nghị quyết 57 cũng như phục vụ phát triển khoa học công nghệ khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với GS.TS Bùi Tiến Thành, Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải.

Chú thích ảnh
GS.TS Bùi Tiến Thành, Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải. Ảnh: Lê Vân

Thưa Giáo sư, sinh viên khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải cần trang bị kiến thức, kỹ năng gì đáp ứng yêu cầu nhân lực ngành đường sắt tốc độ cao?

Trường Đại học Giao thông Vận tải là một trong những cái nôi đào tạo kỹ sư giao thông của cả nước, những ngành học liên quan đến đường sắt đang có những bước chuyển mình. Bên cạnh kiến thức truyền thống, chương trình đào tạo đang dần tiếp cận công nghệ mới, hướng tới cung cấp nhân lực cho các dự án đường sắt tốc độ cao. 

Ngành đường sắt của Trường Đại học Giao thông vận tải ra đời đến nay gần 65 năm. Với truyền thống đó, chúng tôi có kinh nghiệm tổ chức chương trình đào tạo cùng đội ngũ các thầy cô, mạng lưới cựu sinh viên đang giữ trọng trách quan trọng trong những lĩnh vực giao thông mũi nhọn. 

Với ngành đường sắt, trang bị kiến thức đang theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tế. Nếu dạy lý thuyết, sinh viên không thể hình dung được. Ngay từ năm thứ nhất, các em học nhập môn ngành và ra công trường để tiếp xúc với thực tế. Qua đó, khơi gợi sự tò mò, thấm nhuần được triết lý giáo dục của ngành học và định hướng cho bản thân. 

Bên cạnh đó, sinh viên được trao đổi cùng với các cựu sinh viên, đặc biệt các cựu sinh viên đang làm ở các lĩnh vực khác nhau trong ngành đường sắt, giao thông để học hỏi kinh nghiệm cũng như tìm hướng đi việc làm cho mình. Chẳng hạn, với ngành học như vậy nhưng các em có thể đi sâu vào những mảng như quản lý, thiết kế, thi công. Nếu được trao đổi với cá nhân, tập thể đang làm lĩnh vực này các em có thêm định hướng nghề nghiệp dựa trên năng lực bản thân. 

Yêu cầu về kỹ năng, đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho các dự án đường sắt tốc độ cao là bài toán đặt ra từ Đảng và Nhà nước. Vậy ông kỳ vọng lứa sinh viên Nhà trường đào tạo sẽ có vai trò then chốt như thế nào trong các dự án này? 

Chúng tôi kỳ vọng, lứa sinh viên mà khoa Công trình đào tạo nói riêng cũng như của Trường Đại học Giao thông vận tải nói chung sẽ là một trong những mắt xích quan trọng trong các dự án đường sắt tốc độ cao trong tương lai. 

Để làm được điều này, đội ngũ cán bộ, giảng viên phải truyền cho các em sinh viên sự tự tin về ngành học. Đó là việc đổi mới chương trình đào tạo gắn với thực tiễn, đội ngũ giáo viên tiệm cận với thế giới. Chúng tôi có đội ngũ giảng viên được đào tạo bài bản từ các nước trên thế giới như: Nga, các nước Châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc... Việc đa dạng về nguồn lực đào tạo, cùng với việc tổ chức đào tạo thực tế giữa trong và ngoài nước sẽ là nền tảng để các em làm việc ngay khi ra trường.

Đường sắt tốc độ cao chưa có ở Việt Nam nhưng ngay từ tháng 4/2026, dự án đầu tiên về lĩnh vực này được khởi công. Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam và các dự án thành phần còn lại của Dự án đường sắt Hà Nội - Lào Cai - Hải Phòng sẽ được Bộ Xây dựng phấn đấu khởi công trong năm 2026. Vì vậy chúng ta cần có tầm nhìn về nhân lực một cách có hệ thống. 

Chú thích ảnh
Sinh viên khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải trong giờ học thí nghiệm tại Nhà trường. Ảnh: Lê Vân

Nhân lực cần nhiều nhưng chúng ta không thể tuyển sinh nhanh và ồ ạt. Chúng tôi có chiến lược đào tạo để cung cấp nhân lực chất lượng cao một cách hiệu quả nhất. 

Về đào tạo hệ chính quy, đây là năm đầu tiên khoa Công trình tuyển sinh ngành đường sắt tốc độc cao. Khóa này mới học được 1 năm và sau 4 năm nữa ra trường. Bên cạnh đó, chúng tôi kêu gọi nhân lực từ các kỹ sư đang học các ngành như hạ tầng giao thông với bằng 1 và bằng 2 là ngành đường sắt tốc độ cao. Với định hướng này, chúng tôi vừa có khóa đầu tiên tốt nghiệp.

Cùng với đó, chúng tôi xây dựng đội ngũ học viên theo học bằng 2 để truyền cảm hứng tới các sinh viên bằng các đưa các em sinh viên đi thực tập. Chúng tôi thiết kế bài giảng làm sao để những học viên học bằng 2 tham gia giảng dạy sinh viên học chính quy. 

Trước những yêu cầu mới, Nhà trường có giải pháp như thế nào nâng cao chất lượng đào tạo bằng việc ứng dụng công nghệ trong đào tạo?

Việc đổi mới và thích ứng với công nghệ mới là một quá trình. Với ngành giao thông, đặc biệt là khoa công trình chủ động ngay từ ngày đầu khi bài toán về công nghệ phát triển nhiều nơi trên thế giới.

Trong nhiều năm qua, Trường Đại học Giao thông vận tải nói chung cũng như khoa Công trình nói riêng liên tục được đầu tư về trang thiết bị, phòng thí nghiệm. Với cách làm như vậy, sinh viên được tiếp cận với một phần của thực tế ngay trong nhà trường. Để khi ra công trường, các em không bỡ ngỡ và sẵn sàng vào việc.

Chúng tôi gửi sinh viên tới các doanh nghiệp để các em hiểu bài toán thực tế. Cũng là việc dựng cầu vượt qua sông trên giấy nhưng khi tiếp cận với thực tế các em phải có phương án bằng cách ứng dụng công nghệ. 

Khoa Công trình có Chat bot để cho học sinh hỏi về tuyển sinh. Các học sinh khi tiếp cận sẽ được kết nối với cơ sở dữ liệu của Nhà trường, các bài báo, đề tài nguyên cứu... Từ đó các em có những hình dung đầy đủ về ngành học mà mình quan tâm.

Tựu chung lại, chúng tôi thực hiện chặt chẽ 3 trụ cột: Lý thuyết, thực tế và ứng dụng công nghệ với thành tựu của chuyển đổi số để các em tiếp cận chương trình học một cách tối ưu nhất. 

Để học được những ngành học này đòi hỏi đầu vào phải đảm bảo các nền tảng để tiếp cận kiến thức khoa học kỹ thuật. Ông có lời khuyên gì cho thí sinh chọn ngành học trong giai đoạn tới?

Về mặt tâm lý khi thí sinh có điểm cao các em thích vào các ngành hot, nhưng để thực tế hơn thì các em cần tính thị trường lao động định vị ít nhất 5 - 10 năm tới, khi các em ra trường thì xã hội đang cần nhân lực ngành gì, gắn với định hướng, chính sách phát triển đất nước. 

Với mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam rất cần nhiều nguồn lực. Chắc chắn những vấn đề đặt ra như: Thiếu điện, thiế nước, thiếu hạ tầng, thiếu đường xá, cảng, đường, sân bay... Trong khi đó nhà đầu tư không đợi được. Trong 5 năm tới, chúng ta phải đặt nền móng vững chắc cho đầu tư hạ tầng, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, Hà Nội - Quảng Ninh, Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Lạng Sơn hay hệ thống đường bộ cao tốc phía Đông, Quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh... Khi có dự án, việc kết nối các phân mảnh thành hệ thống ra sao. 

Người học chọn ngành nghề không phải hiện tại cần gì mà tương lai cần gì. Các em cần chọn cơ sở đào tạo nào để bản thân tiếp cận với nền tảng kiến thức vững chắc, là cơ sở để các em tiếp cận công việc tốt.

Chú thích ảnh
Sinh viên đi thực tế tại công trường. Ảnh: NVCC

Theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, Việt Nam đang chú trọng phát triển các ngành khoa học công nghệ, các ngành kỹ thuật mũi nhọn như: Trí tuệ nhân tạo, đường sắt tốc độ cao, vi mạch bán dẫn... Tuy nhiên rất nhiều ngành học gần lại được coi là nền móng để có thể phát triển một cách bền vững những ngành này. Quan điểm của ông thế nào?

Quan điểm này là hoàn toàn xác đáng và mang tính chiến lược dài hạn. Trước hết, các lĩnh vực mũi nhọn như trí tuệ nhân tạo, đường sắt tốc độ cao hay vi mạch bán dẫn thực chất đều được xây dựng trên nền tảng của nhiều ngành khoa học – kỹ thuật cơ bản.

Ví dụ, trí tuệ nhân tạo không thể phát triển nếu thiếu toán học, khoa học dữ liệu và khoa học máy tính; hay Đường sắt tốc độ cao đòi hỏi nền tảng vững chắc về công trình, điện – điện tử, cơ khí; còn Vi mạch bán dẫn phụ thuộc sâu sắc vào vật lý, hóa học và công nghệ vật liệu.

Vì vậy, những ngành “gần” hoặc “nền móng” như toán ứng dụng, vật lý kỹ thuật, cơ điện tử, kỹ thuật xây dựng công trình giao thông, khoa học vật liệu… tuy không phải lúc nào cũng “hot”, nhưng lại đóng vai trò cốt lõi và không thể thay thế. Nếu thiếu nền tảng này, việc phát triển các ngành mũi nhọn sẽ thiếu chiều sâu, phụ thuộc công nghệ nước ngoài và khó bền vững.

Một điểm quan trọng khác là phát triển bền vững không chỉ cần công nghệ cao mà còn cần hệ sinh thái nhân lực đồng bộ. Nghĩa là phải có cả đội ngũ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, vận hành và bảo trì. Những ngành nền tảng chính là nơi đào tạo lực lượng đông đảo này, giúp “nuôi dưỡng” và duy trì sự phát triển lâu dài của các ngành mũi nhọn. Từ góc độ định hướng, có thể nói rằng: Ngành mũi nhọn là đầu tàu tạo đột phá, nhưng ngành nền tảng chính là đường ray và nền móng để đầu tàu đó chạy ổn định và lâu dài.

Vì vậy, không nên chạy theo “xu hướng nóng” một cách đơn thuần, mà cần nhìn nhận đúng vai trò của các ngành nền tảng. Việc đầu tư đồng thời vào cả hai nhóm ngành – mũi nhọn và nền móng – mới là cách tiếp cận đúng để thực hiện tinh thần của Nghị quyết và phát triển đất nước một cách bền vững.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc
Sẽ khởi công tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh vào ngày 12/4
Sẽ khởi công tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh vào ngày 12/4

Theo Kế hoạch số 115/KH-UBND của UBND tỉnh Quảng Ninh, lễ khởi công dự án Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh kiến sẽ diễn ra vào ngày 12/4/2026.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN