Đây cũng là tư duy mới trong triển khai thực hiện Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Tại vịnh Hạ Long, du thuyền là hình thức du lịch truyền thống. Ảnh: Minh Đức/TTXVN
Khai thác “kho tàng” di sản đồ sộ
Quảng Ninh được ví như một “Việt Nam thu nhỏ” với kho tàng di sản và bản sắc văn hóa phong phú, đa dạng. Từ văn hóa biển đảo với thương cảng cổ Vân Đồn, văn hóa công nhân mỏ với truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”, đến văn hóa các dân tộc thiểu số vùng miền Đông và không gian tâm linh Yên Tử - nơi khởi nguồn Thiền phái Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập.
Đặc biệt, địa phương này sở hữu những di sản mang giá trị toàn cầu như vịnh Hạ Long - Di sản Thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận 2 lần (1994, 2000) và tiếp tục được ghi danh năm 2023 cùng vịnh Lan Hạ - Cát Bà về đa dạng sinh học. Quần thể di tích danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc vừa được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới năm 2025. Đây là những lợi thế cạnh tranh chiến lược giúp định vị thương hiệu du lịch Quảng Ninh trên bản đồ quốc tế.
Năm 2025, Quảng Ninh đón trên 21 triệu lượt khách, doanh thu đạt khoảng 57.000 tỷ đồng, đóng góp trên 10% GRDP của tỉnh. Bước sang năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng 13%, phấn đấu đón 22 triệu lượt khách với doanh thu du lịch tối thiểu 65.000 tỷ đồng, trong đó, du lịch được xác định là trụ cột kinh tế xanh quan trọng nhất.
Nhận diện những “điểm nghẽn”
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, du lịch Quảng Ninh vẫn đối mặt với không ít thách thức. Chất lượng tăng trưởng chưa thực sự bền vững khi thời gian lưu trú trung bình của du khách còn thấp (khoảng 2,5 ngày), mức chi tiêu chưa cao, cơ cấu nguồn thu vẫn phụ thuộc nhiều vào dịch vụ truyền thống.
Các sản phẩm du lịch văn hóa còn thiếu chiều sâu, hàm lượng công nghệ và tính sáng tạo độc bản. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, hoạt động du lịch hiện chủ yếu tập trung tại một số khu vực trọng điểm như Hạ Long, dẫn đến quá tải cục bộ, trong khi các vùng tiềm năng như Bình Liêu, Cô Tô, Vân Đồn chưa được khai thác hiệu quả. Nguy cơ mai một bản sắc văn hóa trước áp lực đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết.
Thực tế cho thấy, thách thức lớn nhất không phải là thiếu tài nguyên mà là năng lực chuyển hóa các giá trị sẵn có thành sản phẩm du lịch chất lượng cao, đủ sức giữ chân và thu hút du khách quay trở lại.
Theo Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh, sự liên kết giữa du lịch với các ngành công nghiệp văn hóa, sáng tạo, giải trí, thương mại và công nghệ chưa sâu; chưa hình thành hệ sinh thái sản phẩm đa dạng, có khả năng bổ trợ lẫn nhau; thiếu các không gian tiêu dùng du lịch có giá trị cao như kinh tế đêm, tổ hợp giải trí - văn hóa - mua sắm quy mô lớn, dẫn đến hạn chế trong việc kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách. Việc triển khai các mô hình du lịch thông minh, ứng dụng công nghệ số trong quản lý, vận hành và cung cấp dịch vụ còn chưa đồng bộ; chưa hình thành hệ thống dữ liệu du lịch tích hợp và các nền tảng số đủ mạnh để nâng cao trải nghiệm du khách cũng như hiệu quả quản lý.
Giải phát đột phá gắn với công nghiệp văn hóa
Để tạo bước ngoặt, Quảng Ninh xác định cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp. Theo bà Phạm Thùy Dương, Hiệu trưởng Trường Đào tạo cán bộ Nguyễn Văn Cừ, trọng tâm là chuyển đổi tư duy từ “bảo tồn thụ động” sang “phát huy chủ động”, xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa bền vững; trong đó, chuyển hóa “di sản” thành “tài sản”.
Theo định hướng này, tỉnh phát triển các sản phẩm nghệ thuật biểu diễn quy mô lớn gắn với không gian di sản như “Huyền thoại miền di sản” tại Vân Đồn hay “Đêm hội ánh sáng Vịnh kỳ quan”. Đồng thời, phấn đấu đến năm 2030 tổ chức định kỳ 4-6 festival âm nhạc tầm quốc tế mỗi năm, góp phần kéo dài thời gian lưu trú của du khách lên 3,5-4 ngày.
Chùa Hoa Yên tại di tích Yên Tử được dựng từ thời Lý và được tôn tạo nhiều lần trong lịch sử. Chùa tọa lạc trên lưng chừng núi, quay hướng Tây Nam. Ảnh: Minh Đức/TTXVN
Quảng Ninh cũng hướng tới xây dựng mô hình “Bảo tàng mở” và “Làng văn hóa sáng tạo”, chuyển đổi các không gian di sản thành “bảo tàng sống” ngoài trời tại làng chài Vung Viêng, Cửa Vạn hay đô thị di sản Yên Tử. Người dân địa phương được đào tạo để trở thành chủ thể sáng tạo, trực tiếp tham gia cung ứng dịch vụ và bảo tồn “văn hóa sống”.
Cùng với đó, tỉnh tập trung phát triển kinh tế đêm, mở rộng các khu phố đi bộ, chợ đêm và các chương trình nghệ thuật đặc sắc tại Hạ Long, Móng Cái; đồng thời thúc đẩy các loại hình du lịch hội nghị (MICE), du lịch thể thao mạo hiểm, du lịch chữa lành.
Tỉnh cũng đang tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, xây dựng hệ thống du lịch thông minh để cá nhân hóa trải nghiệm du khách, trong đó tập trung vào 2 nội dung cốt lõi là số hóa 3D di sản phi vật thể và vật thể để tạo trải nghiệm và tái tạo mô hình số chính xác cao cho toàn bộ hệ thống di sản của tỉnh; sử dụng dữ liệu lớn (Big Data) phân tích thị hiếu và cá nhân hóa tour du lịch văn hóa.
Theo ông Mai Vũ Tuấn, Trưởng ban Quản lý Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dịch vụ là xu hướng tất yếu, giúp điều tiết lưu lượng khách, hạn chế ùn tắc tại các điểm tham quan trọng yếu.
Số hóa trong quản lý không chỉ giảm tải cho di sản vật chất mà còn góp phần bảo vệ hệ sinh thái nhạy cảm, gìn giữ di sản phi vật thể, hướng tới mục tiêu “du lịch theo sức tải di sản”, phát triển du lịch xanh và thông minh - một trong những tiêu chí phát triển kinh tế bền vững đến năm 2030.
Theo Nghị quyết 80-NQ/TW, quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị là “đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc”. Phát triển du lịch chất lượng cao gắn với công nghiệp văn hóa không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn là giải pháp bền vững để bảo tồn, lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam. Với những định hướng đúng đắn, Quảng Ninh đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành trung tâm du lịch quốc tế, nơi “văn hóa dẫn dắt kinh tế”.