Thực tế tại một số địa phương như Hưng Yên, Ninh Bình và Hải Phòng cho thấy, việc áp dụng công nghệ sạ hàng hiệu ứng hàng biên kết hợp vùi phân và sử dụng phân bón cải tiến không chỉ giúp giảm lượng vật tư đầu vào mà còn thúc đẩy cơ giới hóa, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp.
Sử dụng máy bay không người lái vào bón phân cho lúa tại xã Vị Thanh 1, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Duy Khương/TTXVN
Theo các chuyên gia, thay vì tăng lượng phân bón sử dụng, sản xuất lúa hiện nay cần hướng đến nguyên tắc bón đúng loại, đúng thời điểm và đúng liều lượng để nâng cao hiệu suất sử dụng dinh dưỡng. Khi cây trồng hấp thu tốt hơn, lượng phân thất thoát ra môi trường giảm, đồng nghĩa với việc giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm chi phí cho người sản xuất.
Ông Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia khoa học cao cấp của Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI), cho biết các kết quả thực tế cho thấy công nghệ sạ hàng kết hợp vùi phân giúp giảm khoảng 30% lượng phân bón và 30% thuốc bảo vệ thực vật nhưng vẫn bảo đảm năng suất. Khác với phương thức bón rải truyền thống, phân bón được vùi ngay trong đất từ khi gieo hạt và được tính toán cân đối dinh dưỡng từ đầu vụ, giúp cây hấp thu hiệu quả hơn, giảm thất thoát và giảm công chăm sóc.
Tại Hải Phòng, mô hình bước đầu cho kết quả khả quan khi cây lúa sinh trưởng đồng đều, cứng cây, năng suất tốt, trong khi người dân giảm được lượng phân bón và công lao động. Theo bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng, mô hình không làm thay đổi nhiều tập quán canh tác, chỉ khác ở việc gieo sạ bằng máy và vùi phân ngay từ đầu nên hoàn toàn có thể nhân rộng thông qua các mô hình trình diễn gắn với hệ thống khuyến nông và hợp tác xã.
Tuy nhiên, để các giải pháp này được áp dụng rộng rãi, theo các chuyên gia, cần thay đổi tư duy trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) cho rằng, doanh nghiệp phân bón cần chuyển từ tư duy bán sản phẩm sang cung cấp giải pháp kỹ thuật. Mục tiêu không còn là bán nhiều phân bón hơn mà là giúp nông dân sử dụng hiệu quả hơn, qua đó giảm chi phí, tăng lợi nhuận và đáp ứng yêu cầu giảm phát thải.
Cùng với đó, việc ứng dụng công nghệ số để đánh giá đất, xác định nhu cầu dinh dưỡng và hướng dẫn bón phân theo từng điều kiện canh tác sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón. Tuy nhiên, các công cụ này cần đi kèm hoạt động đào tạo, chuyển giao kỹ thuật để hợp tác xã và nông dân có thể áp dụng hiệu quả.
Theo GS.TS Nguyễn Văn Bộ, chuyên gia cao cấp của IRRI, nguyên Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS), thách thức hiện nay không phải là phát triển thêm nhiều loại phân bón mới mà là đưa đúng sản phẩm đến đúng người sử dụng, đúng liều lượng và với chi phí hợp lý. Vì vậy, cần tăng cường kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân để các tiến bộ kỹ thuật nhanh chóng được đưa vào sản xuất.
Bên cạnh đó, cơ giới hóa được xem là điều kiện quan trọng để triển khai hiệu quả các giải pháp sử dụng phân bón tiết kiệm. Theo ông Nguyễn Văn Hùng, hiện nay việc thiếu thiết bị và dịch vụ cơ giới hóa, nhất là tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, đang là rào cản khiến nhiều nông dân chưa mạnh dạn áp dụng công nghệ mới. Do đó, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển dịch vụ cơ giới hóa đồng bộ.
Ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, mô hình này đã kết hợp hiệu quả giữa cơ giới hóa và khoa học công nghệ, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp hiện đại. Để nhân rộng, cần phát huy vai trò của doanh nghiệp trong cung cấp thiết bị, dịch vụ và các gói giải pháp kỹ thuật, giúp nông dân tiếp cận công nghệ với chi phí hợp lý.
Thực tế cho thấy, sử dụng phân bón tiết kiệm và hiệu quả không còn là giải pháp riêng lẻ trong kỹ thuật canh tác mà đang trở thành một mắt xích quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp. Khi khoa học công nghệ, cơ giới hóa, công cụ số và sự liên kết của toàn chuỗi giá trị cùng được triển khai đồng bộ, nông dân không chỉ giảm chi phí sản xuất, nâng cao lợi nhuận mà còn góp phần thực hiện các cam kết giảm phát thải, tạo nền tảng để hạt gạo Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.