Sản phẩm chiến lược 'Make in Vietnam' - Bài cuối: Đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, giữ vai trò then chốt trong mô hình tăng trưởng mới của đất nước.

Chú thích ảnh
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Ảnh minh họa: Thanh Tùng/TTXVN

Đây là trục chính xuyên suốt trong hệ thống chính sách hiện nay. Cùng với Nghị quyết 57, Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới cùng nhiều quyết sách khác của Đảng và Nhà nước đóng vai trò bổ trợ, hoàn thiện cách tiếp cận phát triển theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy thị trường làm động lực, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo làm phương thức phát triển chủ đạo.

Danh mục 6 sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên được xác định tại Quyết định số 2815/QĐ-TTg cho thấy sự chuyển dịch quan trọng trong tư duy hoạch định chính sách, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, yếu tố cốt lõi trong mục tiêu tăng trưởng hai con số của đất nước trong kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, từ định hướng chính sách đến triển khai thực tiễn vẫn còn khoảng cách đáng kể, đòi hỏi những cơ chế đủ mạnh để tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, thị trường và năng lực triển khai.

Thách thức từ cơ chế

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (Nafosted), đơn vị có chức năng tài trợ, đặt hàng thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học và công nghệ từ nguồn ngân sách nhà nước, thông qua cơ chế kêu gọi đề xuất, đã có một số nhiệm vụ nghiên cứu có nội dung và phạm vi sản phẩm phù hợp với các nhóm công nghệ chiến lược ưu tiên này và tạo ra một số kết quả đáng ghi nhận, song, về tổng thể vẫn còn rời rạc, thiếu tính liên kết. Nguyên nhân là do các nhiệm vụ được hình thành từ các đề xuất riêng lẻ, mỗi nhiệm vụ theo đuổi mục tiêu và chỉ tiêu sản phẩm khác nhau, nên chưa tạo được một bức tranh tổng thể. 

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến nhận định, trên thực tế, việc triển khai các nhiệm vụ công nghệ chiến lược vẫn đang ở giai đoạn khởi động nên chưa bộc lộ đầy đủ các khó khăn cụ thể. Tuy nhiên, có thể khẳng định, nguồn lực tài chính về cơ bản không phải là vấn đề lớn, vì Chính phủ đã có chủ trương và bố trí nguồn lực cho phát triển công nghệ chiến lược. Về nhân lực, Việt Nam cũng có khả năng thu hút và huy động đội ngũ phù hợp. Thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế. Nhiều quy định vẫn còn mang tính khung, thiếu cụ thể, chưa đủ chi tiết để triển khai hiệu quả trong thực tiễn. Một số văn bản quy phạm pháp luật còn chung chung, dẫn đến khó khăn trong tổ chức thực hiện. Đặc biệt, cơ chế chính sách chưa thực sự phù hợp với từng nhóm đối tượng. 

Chú thích ảnh
Phòng nghiên cứu công nghệ nano hiện đại của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN phát

Ví dụ, đối với viện nghiên cứu, trường đại học, lực lượng chủ lực trong nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi cần cơ chế khoán chi linh hoạt, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Trong khi đó, doanh nghiệp lại không nhất thiết cần hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách, mà quan tâm nhiều hơn đến các chính sách như ưu đãi thuế, đất đai, hàng rào kỹ thuật, tiêu chuẩn, hay bảo hộ sở hữu trí tuệ. 

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến cho rằng, thời gian tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng nhận diện đúng “điểm nghẽn” của từng nhóm đối tượng để có chính sách phù hợp; không thể áp dụng một cơ chế chung cho tất cả, mà cần thiết kế các công cụ hỗ trợ linh hoạt, sát với nhu cầu thực tiễn của viện, trường và doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy hiệu quả phát triển công nghệ chiến lược.

“Qua khảo sát thực tế, chúng tôi cũng ghi nhận một số doanh nghiệp đã làm chủ gần như hoàn toàn công nghệ, thậm chí đã hoàn thiện sản phẩm và sẵn sàng đưa ra thị trường. Họ không còn nhu cầu hỗ trợ kinh phí nghiên cứu vì đã đi qua giai đoạn này. Điều họ cần lúc này không phải là tiền, mà là cơ chế - cụ thể là Nhà nước phải đóng vai trò  là khách hàng đầu tiên”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến chia sẻ và cho biết thêm, một số doanh nghiệp cũng đề xuất cơ chế hỗ trợ theo hướng “hậu kiểm”, tức là sau khi đã đầu tư nghiên cứu thành công, có thể được đánh giá, kiểm toán chi phí và Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí. Đây là cách tiếp cận linh hoạt, phù hợp với những doanh nghiệp đã chủ động đầu tư và chịu rủi ro trong giai đoạn nghiên cứu. 

Đề cập đến mô hình kết nối Ba nhà: Nhà nước-Viện/trường đại học-Doanh nghiệp, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Ngọc Chiến khẳng định, mô hình “Ba nhà” là cách tiếp cận phù hợp nhất để phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược. Bởi lẽ, bản chất của công nghệ chiến lược là phải có hàm lượng khoa học cao, tính tiên tiến và khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh. Để đạt được điều đó, cần sự tham gia của đội ngũ nhà khoa học trong việc nghiên cứu, làm chủ và phát triển các công nghệ lõi, sau đó tích hợp vào sản phẩm của doanh nghiệp. Trong khi đó, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ năng lực nghiên cứu và phát triển ở mức sâu. Ngoại trừ một số doanh nghiệp lớn có tiềm lực mạnh, phần lớn doanh nghiệp vẫn cần hợp tác với viện, trường để giải quyết các bài toán khoa học cốt lõi. Khi hai chủ thể này kết nối được với nhau, Nhà nước sẽ đóng vai trò kiến tạo thông qua cơ chế, chính sách và nguồn lực hỗ trợ phù hợp. Vì vậy, việc phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược theo mô hình liên kết ba nhà không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là giải pháp hiệu quả nhất trong bối cảnh hiện nay.

Dự thảo Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Nafosted đang được trình Chính phủ xem xét thông qua đã quy định rõ một chức năng quan trọng của Quỹ là đóng vai trò “cầu nối”, “bà mối” trong hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, Quỹ sẽ chủ động xây dựng đội ngũ và cơ chế để kết nối nhà khoa học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, qua đó thúc đẩy hình thành các nhiệm vụ và dự án chung, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ chiến lược. 

Chú thích ảnh
Công nghiệp bán dẫn đang được xác định là một trong những lĩnh vực chiến lược, có khả năng tạo đột phá cho nền kinh tế, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong những năm tới. Ảnh tư liệu: Ngọc Hà/TTXVN

Về nguồn nhân lực phục vụ mục tiêu phát triển 6 nhóm sản phẩm công nghệ ưu tiên chiến lược Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026-2030 với mức hỗ trợ tối đa lên tới 1 tỷ đồng/năm cho mỗi nghiên cứu sinh trong thời gian không quá 3 năm vừa được thông qua tại Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN. Dự kiến đến năm 2030, mỗi năm, chương trình sẽ hỗ trợ khoảng 100 nghiên cứu sinh xuất sắc với mức hỗ trợ tài chính cạnh tranh quốc tế, qua đó tạo động lực và sức hút đủ lớn, không chỉ giữ chân nhân tài trong nước mà còn thu hút nghiên cứu sinh quốc tế đến Việt Nam. Bên cạnh nhân lực, Quỹ cũng chú trọng phát triển hạ tầng khoa học và công nghệ. Thông qua các chương trình tài trợ, Quỹ sẽ hỗ trợ đầu tư, nâng cấp và kết nối các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, cơ sở dữ liệu khoa học, cũng như các hệ thống thiết bị thử nghiệm, kiểm định… phục vụ trực tiếp cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ), đơn vị đã và đang phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược như UAV, robot tự hành, cần xây dựng một hệ sinh thái đồng bộ, trong đó Nhà nước không chỉ ban hành cơ chế, chính sách mà còn hỗ trợ nguồn lực cho doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp đặt hàng trở lại các viện nghiên cứu, trường đại học. Cách tiếp cận này góp phần hình thành một vòng liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước - doanh nghiệp - nhà khoa học, tạo nền tảng cho thị trường công nghệ phát triển, khắc phục hạn chế của mô hình nghiên cứu đơn lẻ trước đây. 

Nêu một số kinh nghiệm quốc tế, ông cho biết, tại Mỹ, thông qua Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF), Nhà nước giao cộng đồng khoa học xây dựng các báo cáo chiến lược dài hạn, xác định rõ các hướng nghiên cứu ưu tiên, từ đó cụ thể hóa thành các nhiệm vụ, đơn đặt hàng cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học. Cách làm này tạo nên chuỗi liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể, đồng thời gợi mở hướng tiếp cận phù hợp cho Việt Nam trong việc tổ chức triển khai các chương trình công nghệ chiến lược theo hướng có trọng tâm, trọng điểm. 

Từ thực tiễn triển khai tại Tập đoàn MK cho thấy tiềm năng làm chủ công nghệ trong doanh nghiệp là hoàn toàn khả thi khi có cơ chế hỗ trợ phù hợp. Thành công từ sản phẩm Camera AI phục vụ nhận diện, giám sát thông minh, ông Nguyễn Trung Kiên, Tổng Giám đốc MK Vision cho rằng, điều doanh nghiệp cần là những đơn đặt hàng cụ thể, trong đó Nhà nước đóng vai trò “khách hàng đầu tiên”, đặc biệt đối với các sản phẩm lưỡng dụng. Đây không chỉ là nguồn lực trực tiếp mà còn là động lực quan trọng để doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, hoàn thiện công nghệ. 

Nhà nước là khách hàng đầu tiên

Chú thích ảnh
Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) thành phố Đà Nẵng triển khai chia sẻ dữ liệu đến các phường, xã. Ảnh: Mỹ Hà/TTXVN

Tại cuộc họp triển khai Quyết định 2815 của Thủ tướng Chính phủ, ông Hoàng Anh Tú, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã đưa ra nhận định: “Doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư nghiên cứu và phát triển sản phẩm, nhưng vấn đề lớn nhất là đầu ra thị trường. Nhiều sản phẩm công nghệ nếu không có cơ hội triển khai thực tế sẽ khó hoàn thiện và thương mại hóa”. 

Nhiều bài toán thực tiễn của bộ, ngành và địa phương cũng được đại diện các Bộ, ngành, địa phương nêu ra. Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội Cù Ngọc Trang cho biết thành phố đang xem xét đặt hàng các hệ thống camera AI xử lý tại biên phục vụ đô thị thông minh, đặc biệt trong các lĩnh vực giao thông, môi trường và quản lý đô thị. Tại Đà Nẵng, các đề xuất đặt hàng tập trung vào truy xuất nguồn gốc nông sản và xây dựng bản đồ số; trong khi Cần Thơ quan tâm tới UAV phục vụ nông nghiệp và giám sát sạt lở bờ sông.

Ở cấp bộ ngành, đại diện Bộ Xây dựng cho biết nhu cầu ứng dụng UAV, robot tự hành và AI camera là rất lớn trong giám sát công trình, hạ tầng giao thông và các khu vực khó tiếp cận. Trong khi đó, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao quan tâm tới các hệ thống AI phục vụ phân tích hồ sơ và ứng dụng UAV trong thu thập dữ liệu phục vụ xử lý vi phạm.

Chia sẻ về nội dung này, ông Hoàng Anh Tú cho biết: Nhà nước sẽ đóng vai trò khách hàng đầu tiên, thông qua các dự án đặt hàng, nhằm tạo thị trường ban đầu cho sản phẩm. Cụ thể, đối với AI camera, đã có các đơn đặt hàng phục vụ mục đích giám sát, an ninh cho Bộ Công an; phục vụ xây dựng, giao thông cho Bộ Xây dựng; phục vụ y tế, giáo dục cho Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với Thiết bị bay không người lái (UAV), đã có nhiệm vụ đặt hàng cho Bộ Quốc phòng (trinh sát, cứu hộ); Bộ Nông nghiệp và Môi trường (phục vụ nông nghiệp, môi trường); Bộ Y tế. Đối với Robot di động tự hành, các đơn đặt hàng tập trung cho Bộ Công Thương (logistics, nhà máy); Bộ Công an (an ninh); các địa phương (phát triển đô thị).

Các nhiệm vụ này không chỉ dừng lại ở nghiên cứu mà yêu cầu sản phẩm đầu ra phải có địa chỉ ứng dụng, cơ quan tiếp nhận và lộ trình thương mại hóa rõ ràng. Trên cơ sở định hướng khung giao nhiệm vụ này của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương căn cứ nhu cầu của mình để xây dựng đặt hàng. Hiện tại, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có công văn số 1386/BKHCN-CN ngày 13/3/2026 gửi các Bộ, ngành, địa phương hướng dẫn cụ thể để triển khai thực hiện.

Chú thích ảnh
Cảnh sát giao thông TP Hồ Chí Minh vận hành camera giám sát để đảm bảo trật tự an toàn giao thông. Ảnh: Mạnh Linh/Báo Tin tức và Dân tộc

Đối với 6 sản phẩm công nghệ chiến lược này, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã đặt ra những tiêu chí, yêu cầu cụ thể về năng lực công nghệ, tỷ lệ nội địa hoá và khả năng tham gia chuỗi giá trị cũng như những cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia phát triển như: Doanh nghiệp phải nghiên cứu, làm chủ các khâu từ thiết kế, tích hợp, chế tạo đến thử nghiệm và đưa vào ứng dụng thực tế. Yêu cầu cụ thể là phải làm chủ tối thiểu 80% công nghệ lõi của sản phẩm; tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong giá bán sản phẩm phải đạt tối thiểu 60% và trong giá thành sản phẩm phải đạt tối thiểu 40%; doanh nghiệp cần phát triển được các mô-đun có giá trị gia tăng cao, có khả năng thương mại hóa trong chuỗi giá trị toàn cầu. Sản phẩm phải có khả năng thay thế nhập khẩu, đáp ứng tối thiểu 30% thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu; ít nhất 60% nhiệm vụ nghiên cứu của doanh nghiệp phải có đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được chấp nhận và 100% kết quả phải được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín...

Khi tham gia vào chương trình này, doanh nghiệp sẽ nhận được kinh phí thực hiện từ ngân sách nhà nước, ưu tiên trong tổng số 15% tổng chi ngân sách cho sự nghiệp khoa học và công nghệ. Doanh nghiệp còn được hỗ trợ thông qua các hình thức lãi suất vay ưu đãi và các loại phiếu hỗ trợ tài chính (voucher) cho hoạt động đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ, đổi mới công nghệ.

Theo Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, thay vì để doanh nghiệp "tự bơi", Nhà nước sẽ thực hiện cơ chế đặt hàng trực tiếp các nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ cho các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu phối hợp cùng viện nghiên cứu, trường đại học. Đặc biệt, các cơ quan chức năng đang khẩn trương xây dựng cơ chế mua sắm công đối với sản phẩm công nghệ trong nước để tạo thị trường đầu ra ổn định cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cũng được hỗ trợ khai thác, sử dụng dữ liệu từ Trung tâm Dữ liệu quốc gia và các kho dữ liệu dùng chung của các Bộ, ngành,. Đồng thời, Nhà nước đầu tư các hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm, hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC) để doanh nghiệp sử dụng chung nhằm giảm chi phí đầu tư ban đầu…

Về nguồn lực tài chính, ưu tiên phân bổ kinh phí sự nghiệp khoa học từ ngân sách nhà nước, chiếm ít nhất 15% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ để phục vụ các sản phẩm chiến lược này; triển khai các dự án hạ tầng tính toán hiệu năng cao (HPC), trung tâm dữ liệu quốc gia và hệ thống các phòng thí nghiệm, khu thử nghiệm chuyên biệt cho từng loại sản phẩm (như khu thử nghiệm UAV). Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đặt mục tiêu hỗ trợ hình thành tối thiểu 30 doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi và các sản phẩm chiến lược có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Việc lựa chọn 6 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai không chỉ là bước cụ thể hóa các định hướng lớn của Nghị quyết 57 mà còn là phép thử đối với năng lực điều hành chính sách và khả năng phối hợp của toàn bộ hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Trong đó, việc đặt doanh nghiệp vào vị trí trung tâm là điều kiện tiên quyết để chuyển hóa công nghệ chiến lược thành các sản phẩm cụ thể, có khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Nếu không hình thành được cơ chế thị trường phù hợp, không tạo được không gian thử nghiệm và chấp nhận rủi ro, chúng ta sẽ khó có thể hiện thực hoá các sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên. Ngược lại, nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn về thể chế, thị trường và hệ sinh thái, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để từng bước làm chủ công nghệ lõi, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.

TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc
Sản phẩm chiến lược 'Make in Vietnam' - Bài 4: Công nghệ hiện diện trong đời sống - Biểu tượng của năng lực tự chủ quốc gia
Sản phẩm chiến lược 'Make in Vietnam' - Bài 4: Công nghệ hiện diện trong đời sống - Biểu tượng của năng lực tự chủ quốc gia

Trong kỷ nguyên số, 5G không đơn thuần là một bước tiến trong ngành viễn thông mà đã trở thành hạ tầng chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia.

Chia sẻ:

doanh nghiệp - Sản phẩm - Dịch vụ

Các đơn vị thông tin của TTXVN