Nhiều diện tích rừng tràm mất dần, hình thành nên những "trảng" lớn chỉ còn lại các loại cỏ, năng, sậy, dớn...
Phó Giám đốc Vườn quốc gia U Minh Hạ (tỉnh Cà Mau) Lê Thanh Dũng cho biết, dù chưa có con số thống kê đầy đủ, nhưng hiện tại đã xuất hiện hiện tượng suy giảm rừng nghiêm trọng. Nguyên nhân do một số khu rừng đã có từ rất lâu, tuổi rừng quá thuần thục dẫn đến nhiều cây bị chết và đổ ngã.
Ghi nhận thực tế cho thấy chất lượng cây rừng đặc dụng tại khu bảo tồn nghiêm ngặt của Vườn quốc gia U Minh Hạ đang bị suy kiệt đáng kể. Tình trạng này xảy ra chủ yếu tại những khu vực vùng trũng thấp có thời gian ngập nước kéo dài quá 6 tháng.
Theo ông Lê Thanh Dũng, rừng nghèo và cây chết còn xuất phát từ nguồn nước đỏ U Minh tan từ trong đất than bùn ra. Nước đỏ làm mất ánh sáng quang hợp của cây tràm con, khiến rừng không thể tái sinh tự nhiên. Qua thời gian dài phát triển, dưới chân rừng đã hình thành lớp than bùn dày từ 0,5m đến 1,5m. Vào mùa khô, phần chân rừng này trở nên xốp và thiếu kết dính, khiến nhiều cây tràm lâu năm không thể trụ vững.
Các cây tràm bị đổ ngã và hư hại.
Theo diễn thế tự nhiên, hệ sinh thái cây tràm bản địa dần suy thoái và nhường chỗ cho thảm thực vật tự nhiên. Nhiều diện tích rừng tràm mất dần, hình thành nên những "trảng" lớn các loại cỏ, năng, sậy, dớn. Hiện tại, khu vực suy thoái ước tính khoảng 200 đến 300 ha, tập trung tại tiểu khu 1 và tiểu khu 4. Nếu cây tràm không thể tiếp tục phát triển, nơi đây sẽ chuyển sang các hệ sinh thái khác.
Để cứu rừng, lãnh đạo Vườn quốc gia U Minh Hạ sẽ kiến nghị đến các cơ quan chức năng có giải pháp cân bằng lượng nước để cây phát triển trở lại. Hiện đơn vị đang phối hợp với các vụ, viện Trung ương để đánh giá toàn diện hiện trạng suy thoái than bùn và suy thoái rừng.
Các cây rừng bắt dầu suy kiệt và hình thành nên những khoảng trống.
Vườn quốc gia U Minh Hạ là một trong ba điểm bảo tồn đất ngập nước tại Đồng bằng sông Cửu Long, được UNESCO công nhận là một trong ba vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau. Vườn có đặc trưng là hệ sinh thái rừng tràm thuộc họ sim, hình thành trong điều kiện ngập nước, úng phèn trên đất than bùn. Trong tổng diện tích vùng lõi trên 8.500 ha, có hơn 2.500 ha thuộc Phân khu Bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn và hơn 5.100 ha thuộc phân khu phục hồi, sử dụng bền vững hệ sinh thái ngập nước. Vì là khu vực rừng nguyên sinh nên hệ sinh thái tại đây được bảo vệ nghiêm ngặt, diễn tiến tự nhiên và nghiêm cấm mọi sự tác động của con người.
Vườn quốc gia U Minh Hạ có sự đa dạng sinh học đặc trưng của vùng rừng ngập lợ, là nơi cư trú của nhiều loài chim, thú quý hiếm, có giá trị khoa học được ghi vào sách đỏ Việt Nam cùng nhiều loài chim đang bị đe doạ tuyệt chủng trên thế giới và nhiều loài động vật thông thường. Theo ghi nhận tại rừng có hơn 100 loài thực vật, gần 200 loài động vật gồm thú, chim, bò sát, lưỡng cư và cá nước ngọt. Từ trước đến nay, công tác bảo tồn sự đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia U Minh Hạ được lãnh đạo tỉnh Cà Mau quan tâm chỉ đạo, các ngành, các cấp thực hiện xuyên suốt, bằng nhiều hoạt động cụ thể.
Khu vực suy thoái tập trung tại tiểu khu 1 và tiểu khu 4.
Xác định nhiệm vụ trọng tâm trong bảo tồn rừng trước hết là nâng cao ý thức của cộng động dân cư, Vườn Quốc gia U Minh Hạ phối hợp cùng các đơn vị, sở ngành, địa phương thường xuyên đẩy mạnh tuyên truyền về bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học; trong đó, tập trung nhất là Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Quy chế quản lý các khu rừng đặc dụng, phổ biến phạm vi, ranh giới, các phân khu chức năng, mục tiêu và các chương trình hoạt động của Vườn Quốc gia…
Phó Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng Vườn Quốc gia U Minh Hạ Nguyễn Tấn Truyền cho biết, thời gian qua, công tác bảo tồn gắn liền với quản lý, bảo vệ rừng luôn được đơn vị thực hiện xuyên suốt, xác định là nhiệm vụ trọng tâm.
Nhiều cây tràm có dấu hiệu suy kiệt nghiêm trọng, đổ ngã.
Ngoài ra, các lực lượng bảo vệ quản lý rừng thường xuyên tuần tra, kiểm soát những hành vi có dấu hiệu làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái hoặc khai thác rừng trái phép. Lực lượng bảo vệ rừng cũng vận động nhân dân trên vùng đệm thực hiện tốt việc di dời ổn định dân cư, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; chủ động xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; nâng cao ý thức, nhận thức trong cộng đồng dân cư về công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng và bảo vệ các loài động vật hoang dã trong Vườn Quốc gia.