Trung tâm đổi mới sáng tạo Công nghiệp 4.0 (IIC) thuộc Trường Quốc tế Miền Đông (Eastern International University). Ảnh: TTXVN
“Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học”
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học kỹ thuật có vai trò quan trọng đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Điều đặc biệt là ngay trong khi điều kiện đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, phải tập trung cho đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đặt ra yêu cầu phải phát triển khoa học kỹ thuật, nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài.
Trước hết, về vai trò của khoa học kỹ thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi khoa học kỹ thuật là yếu tố quyết định năng suất lao động và sự phát triển của lực lượng sản xuất: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao nǎng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”. Người cũng nhấn mạnh: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân”. Theo Người, muốn có tiến bộ, muốn đất nước giàu mạnh, Nhân dân ấm no, hạnh phúc thì phải xây dựng chủ nghĩa xã hội và phát triển khoa học kỹ thuật.
Trong lễ nhận bằng tiến sĩ danh dự do Trường đại học Padjadjaran (Indonesia) trao tặng năm 1959, một lần nữa Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của sự phát triển khoa học và kỹ thuật đối với tương lai của loài người: "Thế giới ngày nay đang tiến hành những bước khổng lồ về mặt kiến thức của con người. Khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội không ngừng mở rộng ra những chân trời mới, con người ngày càng làm chủ được thiên nhiên, cũng như làm chủ được vận mệnh của xã hội và của bản thân mình”.
Nhận thức rõ vai trò của khoa học kỹ thuật, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn phát triển khoa học kỹ thuật thì trước hết phải có con người đủ trình độ để tiếp cận, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới. Do đó, Người đặc biệt coi trọng giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Người chỉ rõ: “Máy móc ngày càng tinh xảo, nếu không có trình độ văn hóa và kỹ thuật thì không thể điều khiển được”. Người nhấn mạnh, trước đây lao động thủ công là chủ yếu, nhưng khi bước vào thời đại máy móc thì việc học tập văn hóa, nâng cao trình độ kỹ thuật trở thành yêu cầu đặc biệt quan trọng.
Với quan điểm đó, ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn xác định chống “giặc dốt” là một trong những nhiệm vụ cấp bách hàng đầu. Người khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Ngày 8/9/1945, chỉ ít ngày sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ nhằm tổ chức phong trào xóa nạn mù chữ trên phạm vi cả nước. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, hàng loạt lớp bình dân học vụ được mở từ thành thị đến nông thôn, từ vùng tự do đến căn cứ kháng chiến; đông đảo cán bộ, trí thức, học sinh, thanh niên tham gia dạy chữ cho Nhân dân. Chỉ trong những năm đầu của chính quyền cách mạng, hàng triệu người dân đã biết đọc, biết viết. Không chỉ giải quyết yêu cầu cấp bách về dân trí, phong trào bình dân học vụ còn thể hiện tư duy sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của tri thức và khoa học đối với sự phát triển lâu dài của đất nước.
Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích thanh niên, trí thức học tập tinh hoa khoa học của nhân loại để phục vụ Tổ quốc. Nói chuyện tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ II năm 1958, Người căn dặn thanh niên trí thức phải có 6 cái yêu: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu Chủ nghĩa xã hội (CNXH), yêu lao động… và yêu khoa học, bởi vì tiến lên CNXH thì phải có khoa học. Theo Người, thời đại lúc bấy giờ là “thời đại của vệ tinh nhân tạo, của tàu vũ trụ”, tức là thời đại khoa học phát triển mạnh mẽ. Người khẳng định đầy tin tưởng: “Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”.
Trong nhiều bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thể hiện sự trân trọng đặc biệt đối với đội ngũ trí thức và các nhà khoa học. Người cho rằng trí thức là vốn quý của dân tộc, có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước. Tuy nhiên, Người luôn nhấn mạnh trí thức phải gắn bó với Nhân dân, đem tri thức phục vụ Tổ quốc và phục vụ cuộc sống.
Có thể khẳng định, tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc. Người không chỉ nhìn thấy vai trò của khoa học đối với phát triển kinh tế, mà còn đặt khoa học trong mối quan hệ chặt chẽ với con người, giáo dục, văn hóa và sự phát triển của đất nước.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển KHCN hiện nay
Thế giới hiện nay đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột phá về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ bán dẫn, internet vạn vật hay công nghệ sinh học. KHCN ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh và vị thế của mỗi quốc gia.
Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học càng cho thấy ý nghĩa thời sự sâu sắc. Đối với Việt Nam, phát triển KHCN đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là điều kiện sống còn để tránh nguy cơ tụt hậu và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường.
Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định KHCN là quốc sách hàng đầu. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phát triển mạnh mẽ KHCN và đổi mới sáng tạo là một trong những đột phá chiến lược, là động lực chính nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xem là bước phát triển quan trọng trong tư duy chiến lược của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết xác định rõ KHCN và đổi mới sáng tạo phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu, nền tảng để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng.
Văn kiện Đại hội XIV cho thấy bước phát triển mang tính đột phá, chiến lược trong nhận thức của Đảng khi đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng, gắn trực tiếp với nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Điểm đáng chú ý là KHCN không còn được nhìn nhận như yếu tố hỗ trợ, mà đã trở thành yếu tố cấu thành của mô hình phát triển, phản ánh sự chuyển dịch từ tăng trưởng dựa vào mở rộng đầu vào sang tăng trưởng dựa vào năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong lĩnh vực KHCN và chuyển đổi số. Hạ tầng số tiếp tục được đầu tư mạnh mẽ; kinh tế số ngày càng đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng GDP; hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển nhanh; nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam từng bước làm chủ các công nghệ mới.
Chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng trên nhiều lĩnh vực từ hành chính công, giáo dục, y tế, tài chính, thương mại điện tử đến sản xuất công nghiệp. Nhiều địa phương đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, xã hội số; nhiều doanh nghiệp ứng dụng công nghệ để nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Đặc biệt, trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, yêu cầu làm chủ công nghệ lõi, phát triển công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng và dữ liệu số đang trở thành vấn đề chiến lược đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, KHCN nước ta vẫn còn không ít hạn chế. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển còn thấp so với nhiều nước trong khu vực; năng lực đổi mới sáng tạo chưa đồng đều; liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và thị trường còn hạn chế; tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn là thách thức lớn.
Thực tế đó đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển KHCN. Trong đó, tập trung đẩy mạnh đầu tư phát triển KHCN, xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và kỹ sư công nghệ. Cùng với đó, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đổi mới sáng tạo, khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng cống hiến trong đội ngũ trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ.
Quan trọng hơn, phát triển KHCN phải luôn gắn với mục tiêu phục vụ Nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển đất nước bền vững. Đây cũng chính là tinh thần xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh: khoa học phải phục vụ con người, vì con người và do con người làm chủ.
Trong kỷ nguyên số và kinh tế tri thức, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của khoa học vẫn mang ý nghĩa định hướng sâu sắc. Việc phát huy tinh thần học tập, đổi mới sáng tạo và làm chủ KHCN không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, mà còn là điều kiện quan trọng để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững, hiện thực hóa khát vọng hùng cường, thịnh vượng.