Song, từ nền tảng đã được tạo dựng đến những sản phẩm có giá trị gia tăng cao vẫn còn khoảng cách lớn, đòi hỏi phải tăng tốc thương mại hóa, đưa kết quả nghiên cứu nhanh hơn vào thực tiễn để tạo động lực tăng trưởng kinh tế.
Cần chuyển mạnh từ tăng về lượng sang nâng cao chất lượng
Một trong những nền tảng quyết định năng lực đổi mới sáng tạo của quốc gia là cộng đồng doanh nghiệp khoa học công nghệ. Tuy nhiên, bức tranh hiện nay cho thấy quy mô doanh nghiệp phát triển khá nhanh nhưng chất lượng và năng lực làm chủ công nghệ vẫn còn nhiều dư địa để cải thiện.
Theo thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ, đến nay cả nước có hơn 81.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong đó, doanh nghiệp công nghệ số chiếm áp đảo với hơn 78.000 doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp nghiên cứu phát triển chỉ có gần 1.900, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hơn 500, doanh nghiệp khoa học và công nghệ 260 và doanh nghiệp công nghệ cao chỉ 32.
Giới thiệu ứng dụng khoa học công nghệ. Ảnh: TTXVN
Điều này cho thấy hệ sinh thái doanh nghiệp đang phát triển nhanh về số lượng, song lực lượng doanh nghiệp tạo ra công nghệ nguồn, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo vẫn còn rất mỏng.
Xét theo loại hình kinh tế, khu vực tư nhân tiếp tục giữ vai trò chủ đạo khi chiếm hơn 92% tổng số doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 7%, trong khi doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Đây vừa là lợi thế, vừa đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp tư nhân, đồng thời phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực FDI trong chuyển giao công nghệ và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
Một tín hiệu tích cực là doanh nghiệp công nghệ số tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định. Chỉ trong hai quý đầu năm 2026 đã có hơn 4.200 doanh nghiệp ICT thành lập mới. Tuy nhiên, vẫn còn hàng chục nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký hoặc tạm ngừng kinh doanh, phản ánh tính ổn định của hệ sinh thái doanh nghiệp chưa cao.
Đáng chú ý, doanh thu của ngành công nghệ số hiện vẫn chủ yếu đến từ lĩnh vực phần cứng với tỷ trọng khoảng 85,6%, trong khi các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao như phần mềm, dịch vụ số và nội dung số chỉ chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Điều đó cho thấy tăng trưởng hiện vẫn dựa nhiều vào hoạt động gia công, lắp ráp của khu vực FDI hơn là năng lực sáng tạo nội sinh.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu phát triển, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; thu hút FDI vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược, đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn quốc tế để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thương mại hóa sở hữu trí tuệ còn nhiều dư địa phát triển
Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp, hoạt động xác lập quyền sở hữu công nghiệp ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực.
Năm 2025, số lượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, số văn bằng bảo hộ được cấp và số đơn sáng chế của chủ thể Việt Nam đều tăng mạnh so với năm trước. Đặc biệt, toàn bộ số đơn tồn đọng từ các năm trước đã được xử lý dứt điểm.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, số đơn đăng ký tiếp tục tăng gần 15%, trong đó đơn sáng chế của các chủ thể Việt Nam tăng hơn 32% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều đơn đăng ký tập trung vào các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, blockchain, robot, tự động hóa và an ninh mạng.
Bên cạnh đó, hoạt động chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp cũng tăng trưởng mạnh, góp phần nâng cao giá trị hàng hóa và dịch vụ, tạo thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo Trung ương cho rằng, việc khai thác thương mại tài sản trí tuệ vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Hệ thống môi giới, định giá, tư vấn tài chính và các dịch vụ trung gian còn thiếu đồng bộ khiến quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu diễn ra chậm, chưa tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ.
Song song với hoàn thiện cơ chế, chính sách, công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tiếp tục được quan tâm.
Hệ thống chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học, nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã từng bước được hoàn thiện với nhiều cơ chế đặc thù về tiền lương, đãi ngộ, hỗ trợ nghiên cứu và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh.
Đào tạo nhân lực STEM cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực khi số lượng người học đạt hơn 771.000, chiếm gần 30% quy mô giáo dục đại học. Chính sách học bổng được chuyển từ hỗ trợ cơ sở đào tạo sang hỗ trợ trực tiếp người học nhằm khuyến khích sinh viên theo học các ngành công nghệ chiến lược.
Các chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng, đào tạo vi mạch bán dẫn và hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc tiếp tục được triển khai.
Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo Trung ương đánh giá việc thu hút và giữ chân nhân tài vẫn chưa đạt kỳ vọng do cơ chế sử dụng, giao nhiệm vụ và đãi ngộ chưa thực sự gắn với kết quả nghiên cứu cũng như các nhiệm vụ lớn của quốc gia.
Đẩy nhanh phát triển AI, kinh tế dữ liệu và đô thị thông minh
Một trong những điểm nhấn nổi bật trong quá trình triển khai Nghị quyết 57 là việc thúc đẩy phát triển trí tuệ nhân tạo, kinh tế dữ liệu và đô thị thông minh.
Đến nay, hệ thống pháp luật về chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng để phát triển các sản phẩm và dịch vụ AI.
Nhiều cơ quan Trung ương, địa phương đã đưa AI vào hỗ trợ xử lý văn bản, phân tích dữ liệu, nhận dạng hình ảnh, dự báo và cung cấp dịch vụ công.
Các doanh nghiệp lớn như Viettel, VNPT, VinAI, Zalo tiếp tục phát triển mô hình ngôn ngữ lớn tiếng Việt, trong khi FPT hợp tác với NVIDIA xây dựng nhà máy trí tuệ nhân tạo và phát triển các sản phẩm AI tạo sinh.
Tuy nhiên, việc ứng dụng AI vẫn chưa đồng đều. Phần lớn các giải pháp mới tập trung ở mức hỗ trợ tra cứu, tổng hợp thông tin, trong khi số quy trình được thiết kế lại hoàn toàn trên nền tảng AI còn ít. Hạ tầng tính toán, dữ liệu và nguồn nhân lực chuyên sâu vẫn là những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ.
Đối với kinh tế dữ liệu, nhiều nền tảng khai thác dữ liệu đã được triển khai trong lĩnh vực y tế, ngân hàng, giao thông, thuế và an sinh xã hội.
Mặc dù vậy, thị trường dữ liệu vẫn đang ở giai đoạn hình thành. Việc mở dữ liệu, định giá dữ liệu, xây dựng doanh nghiệp dữ liệu và phát triển các sản phẩm từ dữ liệu chưa tạo được giá trị kinh tế rõ nét.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương, dữ liệu mở và khả năng liên thông dữ liệu sẽ là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng trong giai đoạn tới nếu sớm hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế khai thác hiệu quả.
Trong khi đó, phát triển khu công nghệ cao và đô thị thông minh cũng tiếp tục ghi nhận nhiều chuyển biến. Hệ thống khu công nghệ cao từng bước được mở rộng, nhiều địa phương triển khai các dự án quy mô lớn gắn với đổi mới sáng tạo và công nghệ số.
Các đô thị thông minh bước đầu hình thành hệ thống điều hành tập trung, ứng dụng dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo trong quản lý giao thông, y tế, quy hoạch và cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, dữ liệu còn phân tán, khả năng kết nối giữa các hệ thống chưa cao và hiệu quả kinh tế - xã hội vẫn cần tiếp tục được lượng hóa rõ hơn.
Qua hơn một năm triển khai Nghị quyết 57, có thể thấy hệ thống cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã từng bước được hoàn thiện. Nhiều chương trình lớn được khởi động, nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược, hạ tầng nghiên cứu, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và kinh tế dữ liệu đang dần được hình thành.
Tuy nhiên, đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương cũng chỉ rõ rằng phần lớn kết quả hiện nay mới dừng ở giai đoạn thiết kế cơ chế, chuẩn bị đầu tư hoặc khởi động triển khai. Số công nghệ được làm chủ, sản phẩm được thương mại hóa, nhiệm vụ nghiên cứu tạo ra giá trị kinh tế và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng còn hạn chế.
Trong bối cảnh thời gian thực hiện các mục tiêu của năm 2026 không còn nhiều, yêu cầu đặt ra là các bộ, ngành, địa phương cần đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ được giao, huy động mạnh mẽ nguồn lực từ Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu để chuyển nhanh các chủ trương, chính sách thành sản phẩm cụ thể, công nghệ thực chất và động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Đó cũng là thước đo quan trọng để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển đất nước theo đúng tinh thần Nghị quyết 57.