GS.TS Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chia sẻ về phát triển nguồn nhân lực đối với lĩnh vực khoa học vật liệu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa có những chỉ đạo rất quyết liệt về phát triển khoa học cơ bản và công nghiệp vật liệu. Theo Giáo sư, việc đầu tư cho khoa học vật liệu ở Việt Nam hiện nay đã tương xứng với vai trò của lĩnh vực này chưa? Những điểm nghẽn lớn nhất để phát triển khoa học vật liệu hiện nay là gì?
Nếu nhìn một cách khách quan, có thể khẳng định rằng mức đầu tư cho khoa học vật liệu ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự tương xứng với vai trò chiến lược của lĩnh vực này đối với phát triển công nghệ quốc gia. Trong khi các quốc gia phát triển coi khoa học vật liệu là "nền công nghiệp của các nền công nghiệp", là nền tảng của bán dẫn, AI, năng lượng mới, quốc phòng công nghệ cao và chuyển đổi xanh, thì đầu tư của chúng ta vẫn còn phân tán, ngắn hạn và chưa tạo được các hệ sinh thái nghiên cứu đủ mạnh.
Điểm rất đáng chú ý là trong Kết luận tại buổi làm việc ngày 25/5/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: "Những lĩnh vực đang định hình tương lai thế giới hiện nay như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ dữ liệu, năng lượng mới... đều bắt nguồn từ những nghiên cứu cơ bản được đầu tư liên tục trong nhiều thập kỷ". Đây là một nhận định có ý nghĩa chiến lược, bởi khoa học vật liệu chính là lĩnh vực đòi hỏi chu kỳ đầu tư rất dài, rủi ro cao nhưng tác động cực lớn đối với năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
Hiện nay, điểm nghẽn lớn nhất của chúng ta không phải là "thiếu tiền", mà là thiếu cơ chế tài chính phù hợp với bản chất của khoa học vật liệu và nghiên cứu cơ bản. Một đề tài về vật liệu bán dẫn, vật liệu lượng tử hay vật liệu năng lượng mới không thể đánh giá theo logic nhiệm kỳ ngắn hạn hoặc theo cơ chế quyết toán hành chính thông thường. Có những hướng nghiên cứu trên thế giới phải đầu tư liên tục 10-20 năm mới tạo ra đột phá công nghệ.
Trong khi đó, cơ chế đầu tư của chúng ta vẫn còn nặng về quản lý đầu vào, thủ tục hồ sơ, dự toán chi tiết từng năm, tâm lý sợ rủi ro và thiếu cơ chế hậu kiểm. Điều này dẫn tới nghịch lý là nhiều nhà khoa học dành quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính hơn là nghiên cứu. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng đã chỉ rõ đây là một điểm nghẽn lớn khi nhấn mạnh cần "chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo; từ tiền kiểm sang hậu kiểm; chấp nhận rủi ro khoa học".
Đối với lĩnh vực khoa học vật liệu, chi phí đầu tư hạ tầng nghiên cứu đặc biệt lớn. Một hệ thiết bị chế tạo màng mỏng, hệ epitaxy, kính hiển vi điện tử độ phân giải cao, hệ đo PPMS hay các thiết bị phân tích vật liệu bán dẫn đều có giá trị từ hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng. Đây là lĩnh vực mà nếu đầu tư dàn trải, thiếu đồng bộ thì rất khó tạo ra năng lực cạnh tranh thực sự.
Bởi vậy, tôi cho rằng điều quan trọng nhất hiện nay là phải thay đổi tư duy đầu tư. Không thể coi đầu tư cho khoa học vật liệu là "chi phí", mà phải coi đây là đầu tư chiến lược cho năng lực tự chủ quốc gia. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong đó xác định khoa học công nghệ là động lực phát triển mới và là đột phá quan trọng hàng đầu trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Đặc biệt, Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược đã xác định rất rõ các lĩnh vực như bán dẫn, AI, vật liệu tiên tiến, năng lượng mới, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học... là các hướng ưu tiên quốc gia. Nhưng muốn làm chủ được những công nghệ đó thì phải bắt đầu từ năng lực nghiên cứu cơ bản và công nghệ vật liệu.
Giáo sư đánh giá như thế nào về khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học vật liệu và thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay? Theo Giáo sư, cần những cơ chế nào để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và phát triển các doanh nghiệp deep-tech (công nghệ chuyên sâu) trong lĩnh vực này?
Khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa cũng là một điểm nghẽn khá lớn trong nghiên cứu về khoa học vật liệu. Chúng ta có nhiều kết quả nghiên cứu tốt ở quy mô phòng thí nghiệm nhưng thiếu các trung tâm pilot công nghiệp và thiếu nguồn vốn đầu tư mạo hiểm cho deep-tech. Đây là "thung lũng chết" mà rất nhiều công nghệ vật liệu gặp phải.
Tôi cho rằng, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu muốn hình thành các ngành công nghiệp vật liệu chiến lược, doanh nghiệp tư nhân phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo. Nhà nước cần đóng vai trò "dẫn dắt thị trường" thông qua đặt hàng công nghệ, mua sắm công và cơ chế chia sẻ rủi ro ban đầu để hình thành các doanh nghiệp deep-tech đủ mạnh.
Thực tế trên thế giới cho thấy, không quốc gia nào xây dựng được ngành công nghiệp vật liệu tiên tiến nếu thiếu liên kết "Nhà nước- Viện/Trường - Doanh nghiệp". Nhà nước đầu tư cho nghiên cứu nền tảng; viện và trường đại học tạo tri thức và nhân lực; doanh nghiệp thực hiện thương mại hóa và mở rộng sản xuất công nghiệp. Đây chính là hệ sinh thái mà Việt Nam cần xây dựng trong giai đoạn tới.
Tôi cho rằng, trong 10-20 năm tới, quốc gia nào làm chủ được vật liệu chiến lược sẽ có ưu thế tương tự các cường quốc dầu mỏ trong thế kỷ XX. Nhưng giá trị lớn nhất không nằm ở tài nguyên, mà nằm ở tri thức khoa học và năng lực đổi mới sáng tạo.
Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt, nhiều ý kiến cho rằng nhân lực khoa học công nghệ đang trở thành “điểm nghẽn chiến lược” của Việt Nam. Giáo sư nhìn nhận vấn đề này như thế nào, đặc biệt đối với lĩnh vực khoa học vật liệu và nghiên cứu cơ bản?
Theo tôi, nhân tài khoa học đang trở thành "điểm nghẽn chiến lược" bởi vì chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới, nơi cạnh tranh quốc gia thực chất là cạnh tranh về chất lượng nguồn nhân lực khoa học - công nghệ. Trong thời đại kinh tế tri thức và AI, tài nguyên quan trọng nhất không còn là khoáng sản hay lao động giá rẻ mà là con người có khả năng tạo ra tri thức mới và công nghệ lõi.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh rất đúng rằng: "Muốn có nền khoa học mạnh thì trước hết phải có đội ngũ nhà khoa học mạnh". Đồng thời chỉ rõ hiện nay "chúng ta chưa hình thành đầy đủ hệ sinh thái phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài khoa học".
Đối với khoa học vật liệu và khoa học cơ bản, vấn đề nhân lực càng trở nên đặc biệt khó khăn bởi đây là những lĩnh vực có chu kỳ đào tạo rất dài, yêu cầu nền tảng liên ngành rất sâu và môi trường nghiên cứu hiện đại. Một nhà khoa học vật liệu giỏi phải tích lũy đồng thời kiến thức vật lý, hóa học, công nghệ chế tạo, AI, mô phỏng vật liệu và cả khả năng kết nối với sản xuất công nghiệp. Để đào tạo được một chuyên gia đầu ngành đôi khi cần 15-20 năm.
Tuy nhiên, hiện nay có ba vấn đề lớn đang cản trở việc thu hút và giữ chân nhân tài. Đó là môi trường nghiên cứu chưa thực sự đủ sức cạnh tranh quốc tế. Nhiều nhà khoa học trẻ sau khi học tập ở các nước phát triển trở về vẫn gặp khó khăn về phòng thí nghiệm, thiết bị, cơ chế tài chính và khả năng triển khai các ý tưởng nghiên cứu dài hạn. Trong khoa học vật liệu, nếu không có thiết bị hiện đại thì rất khó làm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế. Bên cạnh đó, cơ chế đánh giá đôi khi còn nặng tính hành chính và ngắn hạn. Khoa học cơ bản cần sự tự do học thuật, chấp nhận thử nghiệm và chấp nhận thất bại khoa học. Nhưng trong thực tế, nhiều nhà khoa học vẫn phải dành nhiều thời gian cho thủ tục, báo cáo và các áp lực hành chính. Điều này làm giảm động lực sáng tạo. Đồng thời, chúng ta chưa hình thành được "con đường nghề nghiệp khoa học" đủ hấp dẫn đối với người trẻ. Một sinh viên giỏi hiện nay có rất nhiều lựa chọn trong lĩnh vực tài chính, công nghệ thông tin hay doanh nghiệp quốc tế với mức thu nhập cao và môi trường hiện đại. Trong khi đó, con đường theo đuổi khoa học cơ bản lại dài, áp lực lớn và chưa có chính sách đủ mạnh để tạo sự yên tâm lâu dài.
Ở góc độ này, Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng, bởi nghị quyết đã đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái đào tạo nhân tài, phát triển giáo dục tinh hoa và gắn đào tạo với khoa học công nghệ chiến lược quốc gia. Đây là nền tảng rất quan trọng để hình thành thế hệ nhà khoa học mới cho Việt Nam.
Tôi cho rằng muốn thu hút nhân tài khoa học thì trước hết phải tạo được "niềm tin phát triển". Nhà khoa học phải nhìn thấy họ có cơ hội được giao nhiệm vụ lớn, được tiếp cận hạ tầng hiện đại, được trao quyền tự chủ học thuật và có khả năng hiện thực hóa các ý tưởng khoa học của mình.
Đặc biệt, đối với khoa học vật liệu, cần hình thành các trung tâm nghiên cứu xuất sắc và các chương trình nghiên cứu dài hạn tầm quốc gia về bán dẫn, vật liệu năng lượng, vật liệu lượng tử, vật liệu sinh học và vật liệu quốc phòng. Chỉ khi có các bài toán lớn mang tầm quốc gia thì mới thu hút được các nhà khoa học giỏi tham gia.
Một vấn đề rất quan trọng khác là phải thay đổi cách nhìn về khoa học cơ bản. Nhiều người vẫn cho rằng khoa học cơ bản là lĩnh vực "xa rời thực tiễn", nhưng thực tế toàn bộ công nghệ lõi hiện đại đều bắt nguồn từ khoa học cơ bản. Google, OpenAI, công nghệ chip, vật liệu graphene hay pin lithium đều xuất phát từ những nghiên cứu nền tảng nhiều thập kỷ trước. Do đó, đầu tư cho nhà khoa học không chỉ là đầu tư cho một cá nhân, mà là đầu tư cho tương lai công nghệ và năng lực tự chủ quốc gia.
Tôi tin rằng với những định hướng lớn từ Nghị quyết 57, Nghị quyết 71, Nghị quyết 68 và các chiến lược công nghệ quốc gia mới, Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn để hình thành một thế hệ nhà khoa học mới - có tư duy toàn cầu, năng lực liên ngành và khát vọng làm chủ công nghệ lõi. Nếu chúng ta tạo được môi trường học thuật thực sự tự do, trung thực, hiện đại và có các cơ chế đầu tư dài hạn đủ mạnh, thì khoa học vật liệu Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành những trường phái nghiên cứu mạnh và đóng góp trực tiếp vào năng lực công nghệ chiến lược của đất nước trong giai đoạn tới.
Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!